Anthony Bourdain, host of CNN’s ‘Parts Unknown’ and best-selling author, dies at 61

0
827

Anthony Bourdain, the celebrity chef, author and host of CNN’s Parts Unknown, has died at age 61.

Anthony Bourdain, đầu bếp nổi tiếng, tác giả và người dẫn chương trìnhParts Unknown của CNN, đã qua đời ở tuổi 61.

CNN reported that Bourdain’s friend chef Eric Ripert found him unresponsive in his hotel room in eastern France and called his death a suicide. (The news came just three days after fashion designer Kate Spade killed herself .)

CNN thông báo rằng bạn của Bourdain là đầu bếp Eric Ripert thấy ông bất động trong phòng khách sạn ở miền đông nước Pháp và gọi cái chết của anh là một vụ tự tử. (Tin này đến chỉ ba ngày sau khi nhà thiết kế thời trang Kate Spade tự sát.)

The New York Times and People reported Bourdain had been staying at Hôtel le Chambard in Kaysersberg, located in the Alsace region of France, near the German border. CNN confirmed he was there shooting footage for Parts Unknown.

Tờ New York Times and People đưa tin Bourdain đã ở tại Hôtel le Chambard ở Kaysersberg, nằm ở vùng Alsace của Pháp, gần biên giới Đức. CNN đã xác nhận rằng ông đến đây để quay cảnh cho chương trình Parts Unknown.

Christian de Rocquigny du Fayel, the public prosecutor in nearby Colmar, told that Bourdain’s cause of death was suicide by hanging. He added, “At this stage, we have no reason to suspect foul play.”

Christian de Rocquigny du Fayel, công tố viên ở Colmar gần đó, nói rằng nguyên nhân cái chết của Bourdain là tự sát bằng cách treo cổ. Anh ấy nói thêm, “Ở giai đoạn này, chúng tôi không có lý do gì để nghi ngờ về một vụ giết người.”

“It is with extraordinary sadness we can confirm the death of our friend and colleague, Anthony Bourdain,”  CNN said in a statement. “His love of great adventure, new friends, fine food and drink and the remarkable stories of the world made him a unique storyteller. His talents never ceased to amaze us and we will miss him very much. Our thoughts and prayers are with his daughter and family at this incredibly difficult time.”

“Chúng tôi vô cùng đau buồn khi xác nhận cái chết của người bạn và người đồng nghiệp của chúng tôi, Anthony Bourdain,” CNN cho biết trong một tuyên bố. “Tình yêu của ông với [những chuyến] phiêu lưu, những người bạn mới, thức ăn ngon và đồ uống và những câu chuyện nổi bật của thế giới đã khiến ông trở thành một người kể chuyện độc đáo. Tài năng của ông luôn làm chúng tôi ngạc nhiên và chúng tôi sẽ nhớ ông ấy rất nhiều. Chúng tôi xin chia buồn với gia đình và con gái ông vào thời điểm cực kỳ khó khăn này. “

CNN said it has not made a decision yet on whether it will proceed with the current season.

CNN cho biết họ chưa đưa ra quyết định về việc liệu họ có tiếp tục làm phần tiếp theo của chương trình (Parts Unknown) nữa hay không.

Bourdain, who was born in New York and raised in New Jersey, graduated from the Culinary Institute of America and rose to nationwide prominence as executive chef at New York’s Brasserie Les Halles.

Bourdain, sinh ra ở New York và lớn lên ở New Jersey, tốt nghiệp Học viện Ẩm thực Mỹ và đã nổi tiếng trên toàn quốc như là đầu bếp trưởng tại Brasserie Les Halles ở New York.

He began transitioning into the second phase of his career, turning a 1999 New Yorker story called “Don’t Eat This” into the best-selling book Kitchen Confidential, offering foodies a glimpse at what goes on behind the doors of their favorite restaurants and insider tips, like why they should never order fish on a Monday (when it was least likely to be fresh) and avoid brunch buffets (a dumping ground of leftover food from weekend dinner shifts cooked by hung-over B-team chefs).

Ông bắt đầu chuyển sang giai đoạn thứ hai trong sự nghiệp của mình, biến câu chuyện năm 1999 của New Yorker mang tên “Don’t Eat This” thành cuốn sách bán chạy nhất Kitchen Confidential, mang đến cho những người sành ăn cái nhìn vào sau cánh cửa của những nhà hàng họ yêu thích và những lời khuyên của người trong nghề, ví dụ như lý do tại sao họ không bao giờ gọi cá vào thứ Hai (khi có khả năng là cá sẽ không tươi) và tránh bữa ăn buffet nửa buổi (tâp hợp của thức ăn thừa từ những bữa tối cuối tuần được nấu bởi các đầu bếp nhóm B).

He was also frank about his past heroin use and the prevalence of substance-abuse issues in the culinary world. He would go on to discuss these issues on Parts Unknown, covering the impact of the drug trade on Mexico in a Season 3 episode and the opioid epidemic during a Season 4 installment set Massachusetts.

Ông cũng thẳng thắn về việc mình sử dụng heroin trong quá khứ và sự phổ biến của vấn đề lạm dụng chất [kích thích] trong giới đầu bếp. Ông sẽ tiếp tục thảo luận về những vấn đề này trên Parts Unknown, bao gồm tác động của việc buôn bán ma túy đến Mexico trong một tập của Mùa 3 và vấn nạn sử dụng thuốc phiện trong phần 4 quay ở Massachusetts.

In the latest edition of Kitchen Confidential, which was back in Amazon’s top 20 books within hours of his death, Bourdain said he never intended to write an exposé when he was stealing time to write before his restaurant shifts.

Trong phiên bản mới nhất của Kitchen Confidential, trở lại trong top 20 cuốn sách hàng đầu của Amazon trong vòng vài giờ sau khi ông qua đời, Bourdain nói ông không bao giờ có ý định viết để phơi bày [vấn đề này] trước khi chuyển đổi sự nghiệp của đầu bếp khi ông phải dành thời gian [nấu nướng] cho việc viết lách.

“What I set out to do was write a book that my fellow cooks would find entertaining and true,” he wrote. “I wanted it to sound like me talking at say … 10 p.m. on a Saturday night, after a busy dinner rush, me and a few cooks hanging around in the kitchen, knocking back a few beers and talking.”

“Những gì tôi định làm ban đầu là viết một cuốn sách mà [trong đó] các đầu bếp đồng nghiệp của tôi sẽ tìm thấy sự giải trí và sự thật,” ông viết. “Tôi muốn cuốn sách nghe như thể tôi kể chuyện … 10 giờ tối vào một đêm thứ bảy, sau khi bận rộn [phục vụ] một bữa ăn tối, tôi và một vài đầu bếp lượn lờ trong nhà bếp, làm vài chai bia và trò chuyện.”

Kitchen Confidential spawned two TV series: a Food Network travelogue called A Cook’s Tour and a short-lived Fox sitcom based on his career and personal foibles, starring a then-up-and-coming Bradley Cooper.

Kitchen Confidential kéo dài 2 series truyền hình: một chương trình du lịch [trên kênh] Food Network có tên là A Cook’s Tour và một sieries ngắn trên Fox sitcom dựa trên sự nghiệp và cá nhân của ông, với sự tham gia của người nổi tiếng Bradley Cooper.

He became a household name with his next series, Travel Channel’s No Reservations, which followed him as he traveled the world in search of life-changing culinary and cultural experiences.

Ông trở thành một cái tên quen thuộc với mọi nhà qua series tiếp theo của ông, No Reservations của Travel Channel, theo ông khi ông đi khắp thế giới để tìm kiếm những trải nghiệm ẩm thực và văn hóa làm thay đổi cuộc sống.

The show also sometimes made him a witness to history, like in 2006 when he and his fixer found themselves trapped in Beirut as the Israel-Lebanese conflict broke out. A decade later, Bourdain and President Obama supped together at a hole-in-the-wall restaurant in the Vietnamese capital of Hanoi, a meal that became known as the “noodle summit.”

Chương trình này đôi khi cũng khiến ông trở thành nhân chứng lịch sử, như năm 2006 khi ông và người trợ lý của mình nhận ra rằng họ bị mắc kẹt ở Beirut khi cuộc xung đột Israel-Lebanon nổ ra. Một thập kỷ sau đó, Bourdain và Tổng thống Obama đã ăn cùng nhau tại một nhà hàng nhỏ ở thủ đô Hà Nội của Việt Nam, một bữa ăn được gọi là “hội nghị thượng đỉnh phở”.

In one of his final interviews with The Bergen Record’s Magazine, Bourdain explained that he focused more on taking risks than pleasing the audience. It paid off: Those gambles led to a dozen Emmy nominations and four wins.

Trong một trong những cuộc phỏng vấn cuối cùng của ông với tạp chí The Bergen Record’s, Bourdain giải thích rằng ông tập trung hơn vào việc mạo hiểm hơn là làm hài lòng khán giả. Nó đã được đền đáp: Những vụ đánh cược đó đã dẫn tới nhiều đề cử cho giải Emmy và bốn lần chiến thắng.

“In my opinion, if you start thinking about what people like about the show, or who’s watching, you repeat yourself,” he said during an April phone conversation while shooting in Spain. “It’s very easy, I think, to give the people what they want.  That’s why there are all these shows about the top 10 burgers, favorite diners, dives and drive-ins. That strikes a chord with people. Those are immensely popular shows.”

“Theo tôi, nếu bạn bắt đầu suy nghĩ về những gì làm mọi người thích chương trình, hoặc người xem chương trình là ai, bạn lặp lại chính mình”, ông nói trong một cuộc trò chuyện qua điện thoại vào tháng Tư trong khi quay phim ở Tây Ban Nha. “Tôi cho rằng thật dễ để cung cấp cho mọi người những gì họ muốn. Đó là lý do tại sao có tất cả những chương trình về 10 loại bánh mì kẹp thịt hàng đầu, thực khách yêu thích, lặn biển và lái xe. Điều đó làm khán giả bội thực. Có quá nhiều chương trình như thế.”

He continued, “Our credo, our motto, is to just never repeat ourselves if at all possible, to try to do something different, to take chances, to change the game as much as we can, whenever we can.”

Ông nói thêm, “Niềm tin của chúng tôi, phương châm của chúng tôi, là không bao giờ lặp lại chính mình nếu còn có thể, để cố gắng làm một điều gì đó khác đi, để nắm lấy cơ hội, thay đổi cuộc chơi càng nhiều càng tốt, bất cứ khi nào có thể.”

Despite his success on TV, he continued cranking out magazine articles and books, including 2006’s The Nasty Bits, 2007’s No Reservations: Around the World on an Empty Stomach and 2010’s Medium Raw: A Bloody Valentine to the World of Food and the People Who Cook.

Mặc cho thành công trên TV, ông vẫn tiếp tục viết nhiều bài tạp chí và sách, bao gồm The Nasty Bits năm 2006, No Reservations năm 2007: Around the World on an Empty Stomach và Medium Raw năm 2010: A Bloody Valentine to the World of Food và the People Who Cook.

He also put out two cookbooks: Anthony Bourdain’s Les Halles Cookbook: Strategies, Recipes, and Techniques of Classic Bistro Cooking in 2004 and Appetites in 2016.

Ông cũng cho ra mắt hai cuốn sách dạy nấu ăn: Anthony Bourdain’s Les Halles Cookbook: Strategies, Recipes, and Techniques of Classic Bistro Cooking vào năm 2004 và Appetites vào năm 2016.

The chef-turned-host had his own publishing imprint, Ecco, through HarperCollins, which the company said would fold once its remaining titles are released, including We Fed an Island (due Sept. 11), in which fellow chef Jose Andres recounts efforts cooking for Puerto Rican survivors of Hurricane Maria.

Người đầu-bếp-chuyển-sang-dẫn-chương-trình này đã có ấn bản của riêng mình, Ecco, thông qua HarperCollins, công ty cho biết sẽ dừng hoạt động ngay khi các bài viết còn lại được phát hành, bao gồm We Fed an Island (kết thúc ngày 11 tháng 9 tới), trong đó đầu bếp Puerto Rico thuật lại các nỗ lực nấu ăn cho những người Puerto Rico sống sót sau cơn bão Maria.

Bourdain, known for his barbed tongue, didn’t spare his fellow celebrity chefs from his scathing commentary. Whether high-brow or low, they were all fair game to him. He slammed Food Network stars like Paula Deen, Rachael Ray and Guy Fieri and high-end chefs like Alice Waters and Alain Ducasse.

Bourdain, nổi tiếng với giọng văn đanh thép của mình, đã không tha cho các đầu bếp nổi tiếng của mình bằng những lời bình luận gay gắt. Cho dù họ có trình độ cao hay thấp, ông ấy đều đối xử công bằng. Ông đã chỉ trích các ngôi sao của Food Network như Paula Deen, Rachael Ray và Guy Fieri và những đầu bếp cao cấp như Alice Waters và Alain Ducasse.

He was also outspoken on political and social-justice issues. When the immigration debate reached a full boil, he defended Mexican and Central American restaurant workers as “the backbone of the industry.” Through his girlfriend, actress Asia Argento, who has accused Harvey Weinstein of assault, he became a prominent male activist in the Me Too movement.

Ông cũng thẳng thắn về các vấn đề chính trị và xã hội. Khi cuộc tranh luận về người nhập cư lên đến mức cao trào, ông đã bảo vệ những người lao động Mexico và Trung Mỹ ở các nhà hàng là “xương sống của ngành.” Thông qua bạn gái của mình, nữ diễn viên Asia Argento, người đã cáo buộc Harvey Weinstein tội tấn công [tình dục], ông trở thành một nhà hoạt động nổi tiếng trong phong trào Me Too (phong trào chống quấy rối tình dục).

In a Twitter statement posted Friday, Argento wrote, “Anthony gave all of himself in everything that he did. His fearless spirit touched and inspired so many, and his generosity knew no bounds. He was my love, my rock, my protector. I am beyond devastated. My thoughts are with his family. I would ask that you would respect their privacy and mine.”

Trong một tuyên bố trên Twitter được đăng hôm thứ Sáu, Argento đã viết, “Anthony luôn tâm huyết với tất cả những gì mà ông làm. Tinh thần không sợ hãi của ông chạm vào trái tim và truyền cảm hứng cho rất nhiều người, và sự hào phóng của ông không có giới hạn. Anh ấy là tình yêu của tôi, viên ngọc quý của tôi, người bảo vệ của tôi. Tôi hoàn toàn suy sụp. Tôi xin chia sẻ nỗi đau này với gia đình ông. Tôi mong các bạn tôn trọng quyền riêng tư của họ và của tôi.”

Bourdain was married twice before meeting Argento in 2016. He became a father at age 50 when he and his second wife, Ottavia Busia, welcomed daughter Ariane in 2007.

Bourdain đã kết hôn hai lần trước khi gặp Argento vào năm 2016. Ông được làm cha ở độ tuổi 50 khi ông và người vợ thứ hai của ông, Ottavia Busia, chào đón con gái Ariane vào năm 2007.

In a 2008 interview with the Associated Press, Bourdain had said that his daughter’s birth had changed his outlook on life. “I feel obliged to at least do the best I can and not do anything really stupidly self-destructive if I can avoid it,” he said.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 2008 với Associated Press, Bourdain đã nói rằng sự ra đời của con gái ông đã thay đổi quan điểm của ông về cuộc sống. “Tôi cảm thấy mình ít nhất cũng phải có nghĩa vụ làm điều tốt nhất mình có thể và không làm bất cứ điều gì thực sự ngu ngốc nếu tôi có thể tránh nó,” ông nói.

He wrote in a 2015 CNN piece that he considered naming her Beirut: “She was, after all, conceived within two hours of returning from my first visit there.”

Ông đã viết trong một bài của CNN 2015 về việc ông đặt tên cho cô ấy (cô con gái) là Beirut: “Cô bé, sau khi tất cả, xuất hiện trong vòng hai giờ sau khi tôi lần đầu trở về từ đó.”

Source: https://www.usatoday.com/story/life/people/2018/06/08/anthony-bourdain-chef-turned-tv-host-dies-61/683957002/

WORD BANK:

celebrity /səˈlebrəti/ [B1] (n): người nổi tiếng

unresponsive /ˌʌnrɪˈspɒnsɪv/ (adj): bất động

suicide /ˈsuːɪsaɪd/ [B2] (n): vụ tự tử

prosecutor /ˈprɒsɪkjuːtər/ [C2] (n): công tố viên

foul play (n – informal): vụ giết người

extraordinary /ɪkˈstrɔːdɪnəri/ [B1] (adj): phi thường

unique /juːˈniːk/ [B2] (adj): độc đáo

cease to do sth /siːs/ [B2] (v): ngừng làm gì

Our thoughts and prayers are with his daughter and family. (expression): Chúng tôi xin chia buồn với gia đình và con gái ông.

proceed with sth (v) tiếp tục làm gì

nationwide /ˌneɪʃənˈwaɪd/ [B2] (adj): trên toàn quốc

prominence /ˈprɒmɪnəns/ [C1] (n): sự nổi tiếng

transition /trænˈzɪʃən/ [C2] (v,n) chuyển đổi sang cái gì mới

foody (n – informal): người sành ăn

glimpse at /ɡlɪmps/ (v, n): cái nhìn sơ qua

insider tips (n): những lời khuyên của người trong nghề

brunch buffet (n): bữa buffet nửa buổi

frank /fræŋk/ (adj): thẳng thắn

prevalence /ˈprevələns/ (n): sự phổ biến

culinary /ˈkʌlɪnəri/ (adj): thuộc về nấu ăn

opioid epidemic /ˌepɪˈdemɪk/ (n): vấn nạn sử dụng thuốc phiện

exposé /ekˈspəʊ.zeɪ/ (n): việc phơi bày một vấn đề ra công chúng, đặc biệt là một vấn đề gây sốc

set out to do sth (v): định làm gì (ban đầu)

travelogue /ˈtræv.əl.ɒɡ/ (n): chương trình TV hoặc cuốn sách về du lịch

foibles /ˈfɔɪbəl/ (n): tính cách, con người cá nhân

star (v): với sự tham gia của

up-and-coming (adj): chỉ 1 người bắt đầu làm gì với ấn tượng tốt và nhiều khả năng sẽ trở nên nổi tiếng

household name /ˌhaʊshəʊld neɪm/ (n): cái tên quen thuộc với mọi nhà/mọi người

life-changing /ˈlaɪfˌtʃeɪndʒɪŋ/ (adj): làm thay đổi cuộc đời

fixer (n): người trợ lý

break out [B2] (v): bùng nổ

hole-in-the-wall (adj): chỉ 1 quán ăn, cửa hàng nhỏ nhưng mang lại dịch vụ tốt

nomination /ˈnɒmɪneɪʃən/ [C1] (n): đề cử

immensely /ɪˈmenslɪ/ [C1] (adv): vô cùng lớn

credo /ˈkreɪdəʊ/ (n): niềm tin

motto /ˈmɒtəʊ/ (n): phương châm

crank out (v): làm gì với số lượng lớn

fold (v): dừng hoạt động

recount (v): thuật lại

barbed tongue /bɑːbd tʌŋ/ (n): giọng văn đanh thép

scathing /ˈskeɪðɪŋ/ (adj): rất gay gắt

commentary /ˈkɒm.ən.tər.i/ (n): lời bình luận

high-brow / low-brow (adj): có trình độ cao / thấp

slam (v): chỉ trích

high-end (adj): cao cấp

outspoken (adj): thẳng thắn

reach a full boil (idiom): lên đến mức cao trào

give all of oneself in sth (idiom): tâm huyết với cái gì

outlook ons th [C1] (n): quan điểm về cái gì

obliged to do sth /əˈblaɪdʒd/ (adj): buộc phải làm gì