It took a century to create the weekend – and only a decade to undo it (Part II)

0
546

It took a century to create the weekend – and only a decade to undo it (Part I)

Henry Ford’s capitalist contribution – Đóng góp của Henry Ford

One of the key agents in normalizing the weekend for the rest of American workers was actually a staunch anti-unionist, auto tycoon Henry Ford.

Một trong những tác nhân chính trong việc tạo ra kỳ nghỉ cuối tuần cho phần còn lại của công nhân Mỹ thực sự là một người kiên quyết chống đối công đoàn, ông trùm ô tô Henry Ford.

In 1914, Ford raised the daily wage in his factories from $2.34 per day to $5.00. It was a radical move, and a PR sensation. Thousands showed up hoping for work, causing a near riot that was damped down when the police department turned firehoses on men in bitter winter. But the raise wasn’t exactly the Owen-style socialism, it superficially resembled; Ford was convinced to go along with an increased wage only when his vice president, James Couzens, pointed out that not only would the move be great publicity, but more money would give the workers an incentive to spend – perhaps on cars. In 1926, Ford echoed this argument when he introduced the five-day workweek. “People who have more leisure must have more clothes,” he argued. “They eat a greater variety of food. They require more transportation in vehicles.”

Vào năm 1914, Ford đã tăng mức lương ở các nhà máy của mình từ 2,34 đô la lên 5 đô la một ngày. Đó là một động thái triệt để, và một tin giật gân mang tính PR. Hàng ngàn người đã xuất hiện với hy vọng xin được làm việc, gần như gây ra một cuộc bạo loạn mà chỉ hạ nhiệt khi sở cảnh sát phun vòi rồng vào những người đàn ông [đang xin việc] trong mùa đông lạnh giá. Nhưng sự mức tăng lương này không phải là chủ nghĩa xã hội theo phong cách Owen (tức Chủ nghĩa xã hội không tưởng), nó chỉ giống ở vẻ bề ngoài; Ford chỉ bị thuyết phục về vấn đề tăng lương khi phó chủ tịch của ông, James Couundred, chỉ ra rằng hành động này không chỉ mang tính cộng đồng lớn, mà việc tăng lương sẽ khuyến khích người lao động chi tiêu nhiều hơn – có thể là vào xe hơi. Năm 1926, Ford lặp lại lập luận này khi ông đưa ra tuần làm việc năm ngày. “Những người có nhiều thời gian rảnh hơn phải có nhiều quần áo hơn,” ông lập luận. “Họ phải ăn nhiều loại thực phẩm hơn. Họ cần phải có phương tiện vận chuyển tốt hơn.”

Ford, probably by accident, articulated a contradiction that sits at the heart of the weekend as we have come to know it: It’s both a time of rest and a time of consumption. A Marxist might point out that the weekend is an act of corporate trickery, a dangling carrot that keeps workers tethered to their jobs.

Ford, có lẽ là tình cờ, đã gắn kết một mâu thuẫn của ngày cuối tuần mà chúng ta đã biết tới: Đó là thời gian cho cả việc nghỉ ngơi và tiêu tiền (trong khi trước đó người ta phải đánh đổi tiền lương để có được một ngày nghỉ). Một người theo chủ nghĩa Mác có thể chỉ ra rằng kỳ nghỉ cuối tuần là một hành động lừa bịp của doanh nghiệp, một củ cà rốt treo lủng lẳng khiến công nhân bị trói buộc vào công việc của họ.

As the economist John Kenneth Galbraith put it, the mission of production – and business – is to “create the wants it seeks to satisfy” – and the weekend is the time of satisfying wants.

Như nhà kinh tế học John Kenneth Galbraith đã nói, nhiệm vụ của sản xuất – và kinh doanh – là “tạo ra những mong mỏi mà nó phải tìm cách để thỏa mãn” – và kỳ nghỉ cuối tuần là thời gian để thỏa mãn những mong mỏi đó.

All of which is probably true, but it’s just as true to say that the yearning for a weekend doesn’t arise solely from a desire to shop. With work quelled, space opens up in which to be with others, or in solitude with the self – or both. The clock that propels us all those other days is silenced (or quieted, at least), and time opens up, awakening our own desires, our thoughts and impulses.

Tất cả những điều đó có lẽ là đều đúng, nhưng cũng đúng khi nói rằng khao khát một ngày cuối tuần không nảy sinh chỉ từ mong muốn mua sắm. Khi công việc được tạm dừng, không gian mở bên người khác, hoặc trong đơn độc – hoặc cả hai. Chiếc đồng hồ thúc đẩy tất cả chúng ta vào những ngày khác trở nên im lặng (hoặc ít nhất là chạy khẽ khàng), và thời gian mở ra, đánh thức những ham muốn, suy nghĩ và cơn bốc đồng của chúng ta.

It was less poetry than pragmatism, however, that finally cemented the two-day weekend. During the Depression of 1929, many industries began cutting back to a five-day schedule. In a tumultuous, underemployed economy, fewer hours for some would mean more work for others (an idea that still reverberates in some European countries: In Germany, the response to the 2008 economic crisis was to implement a nationwide work-sharing program called Kurzarbeit, meaning “short work”). Americans experienced what it was to work less, and they liked it. Politicians noticed. Guided along by organized labor, with President Roosevelt signing off, the Fair Labor Standards Act of 1938 enshrined the modern weekend: Americans were now promised the eight-hour day, and the forty-hour workweek.

Nghe có vẻ ít thơ mộng hơn chủ nghĩa thực dụng, tuy nhiên, điều đó cuối cùng đã củng cố hai ngày nghỉ cuối tuần. Trong cuộc khủng hoảng năm 1929, nhiều ngành công nghiệp bắt đầu cắt giảm tuần làm việc xuống còn 5 ngày. Trong một nền kinh tế hỗn loạn, thiếu việc làm, ít giờ làm hơn đối với một số người đồng nghĩa với thêm việc làm cho những người khác (một ý tưởng vẫn còn được phản ánh ở một số nước châu Âu: Ở Đức, cách phản ứng với cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 là thực hiện chương trình chia sẻ công việc trên toàn quốc có tên Kurzarbeit, có nghĩa là “công việc ngắn”). Người Mỹ đã trải nghiệm làm việc ít hơn là thế nào, và họ thích điều đó. Các chính trị gia đã để ý đến điều này. Được dẫn dắt bởi lực lượng lao động có tổ chức, với việc Tổng thống Roosevelt ký quyết định, Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Công bằng năm 1938 đã ghi nhận kỳ nghỉ cuối tuần [thời] hiện đại: Người Mỹ được cam kết ngày làm việc 8 giờ và tuần làm việc 40 giờ.

Say hello to the weekend – Hãy chào đón kỳ nghỉ cuối tuần

The weekend skipped across the globe over the next several decades. By 1955 the two-day weekend was standard in Britain, Canada, and the United States, and short Saturdays were common across Europe. By the 1970s, no European country exceeded a 40-hour workweek – many worked less – and all observed the weekend.

Kỳ nghỉ cuối tuần đã lan qua toàn cầu trong vài thập kỷ tới. Vào năm 1955, hai ngày cuối tuần trở thành tiêu chuẩn ở Anh, Canada và Hoa Kỳ, và ngày thứ Bảy ngắn (làm nửa ngày thứ 7) trở nên phổ biến trên khắp châu Âu. Vào những năm 1970, không có quốc gia châu Âu nào có tuần làm việc vượt quá 40 giờ 1 tuần – nhiều người còn làm việc ít hơn – và tất cả đều được thấy vào cuối tuần.

In the Middle East, Friday-Saturday weekends became the norm over the last half of the 20th century, while some Gulf and North African countries booked off Thursday and Friday. But as economies have reoriented from local to global, the financial boon to a country that keeps hours in line with the West has altered the shape of the weekend. Oman switched from a Thursday-Friday weekend to a Friday-Saturday weekend in 2013. The same year, Saudi Arabia followed suit with a royal decree that looked a lot like an open-for-business sign.

Ở Trung Đông, những ngày cuối tuần thứ Sáu-thứ Bảy đã trở thành thông lệ trong nửa cuối thế kỷ 20, trong khi một số quốc gia vùng Vịnh và Bắc Phi đã nghỉ vào thứ Năm và thứ Sáu. Nhưng khi các nền kinh tế tái định hướng từ địa phương sang quốc tế, lợi ích tài chính cho một quốc gia có giờ làm việc phù hợp với phương Tây đã thay đổi hình dạng của kỳ nghỉ cuối tuần. Oman đã chuyển từ kỳ nghỉ cuối tuần vào thứ Năm-thứ Sáu sang thứ Sáu-thứ Bảy vào năm 2013. Cùng năm đó, Ả Rập Xê Út đã tuân theo một sắc lệnh hoàng gia rất giống với một dấu hiệu mở cửa cho kinh doanh.

The state of the weekend is an ongoing battle in Israel, where the official weekend is the day and a half that constitutes the Sabbath, from Friday evening through Saturday. But Israel’s weekend is changing, too – tensely. Some Orthodox Jews, appalled at Sabbath-breakers, have reportedly thrown stones at Israelis taking the bus on Saturdays. With Arabs and Christians to please, there have been calls for a full, two-day Friday-Saturday weekend to accommodate holy days for all groups.

Tình trạng của ngày nghỉ cuối tuần là một trận chiến đang diễn ra ở Israel, trong đó kỳ nghỉ cuối tuần chính thức là một ngày rưỡi tạo nên ngày Sabbath, từ tối thứ sáu đến hết ngày thứ bảy. Nhưng kỳ nghỉ cuối tuần ở Israel cũng đang thay đổi – một cách đầy căng thẳng. Một số người Do Thái Chính thống, bất bình với những người không tuân theo ngày Sabbath, được cho là đã ném đá vào những người Israel đi xe buýt vào ngày thứ bảy. Để làm hài lòng người Ả Rập và người Kitô hữu, đã có những lời kêu gọi đầy cho kỳ nghỉ cuối tuần đủ hai ngày thứ Sáu-thứ Bảy để phù hợp với ngày thánh cho tất cả các nhóm [sắc tộc].

Whether it’s motivated by the push of business or the pull of the soul (or some combination of the two), two days off is what feels normal and human. After hundreds of years of debate, bloodshed, and dogma, a weekend should be an enshrined right – yet that isn’t exactly what happened. It took a century to win the weekend. It’s taken only a few decades to undo it.

Cho dù là bị thúc đẩy bởi lợi ích trong kinh doanh hay sự lôi kéo của tâm hồn (hoặc sự kết hợp của cả hai), hai ngày nghỉ là những gì người ta cảm thấy bình thường và rất “con người”. Sau hàng trăm năm tranh luận, đổ máugiáo điều, một ngày cuối tuần nên là một quyền được ghi nhận – nhưng đó không phải là chính xác là những gì đã xảy ra. Phải mất một thế kỷ để giành lấy kỳ nghỉ cuối tuần. Nhưng chỉ mất vài thập kỷ xóa bỏ nó.

Source: https://qz.com/969245/it-took-a-century-to-create-the-weekend-and-only-a-decade-to-undo-it/?fbclid=IwAR2Yhqm6BrXEaCtmzPOUP3J30PQQtZC0lvgzsKc5MyukAb1yXdr1XO8kvc8

WORD BANK:

staunch /stɔːntʃ/ (adj): trung thành

tycoon /taɪˈkuːn/ (n): ông trùm

radical /ˈræd.ɪ.kəl/ [C2] (adj): triệt để

sensation /senˈseɪ.ʃən/ [B2] (n): tin giật gân

riot /ˈraɪ.ət/ [C1] (n): cuộc bạo loạn

damp sth down /dæmp/ (v): hạ nhiệt, dập tắt

superficial /ˌsuː.pəˈfɪʃ.əl/ [C2] (adj): thuộc về bề ngoài

resemble /rɪˈzem.bəl/ [C1] (v): giống

incentive /ɪnˈsen.tɪv/ [C2] (n): sự khuyến khích

echo /ˈek.əʊ/ [C2] (v): lặp lại, nhắc lại (một quan điểm)

leisure /ˈleʒ.ər/ [B1] (n): thời gian rảnh

articulate /ɑːˈtɪk.jə.lət/ (v): gắn kết

contradiction /ˌkɒn.trəˈdɪk.ʃən/ [C2] (n): sự mâu thuẫn

trickery /ˈtrɪk.ər.i/ (n): trò lừa bịp

dangle /ˈdæŋ.ɡəl/ (v): treo lủng lẳng

tether /ˈteð.ər/ (v): trói buộc

yearn /jɜːn/ [C2] (v): khao khát

arise /əˈraɪz/ [C1] (v): nảy sinh, phát sinh

solely /ˈsəʊl.li/ [C1] (adv): chỉ

quell /kwel/ (v): chấm dứt, chế ngự

solitude /ˈsɒl.ɪ.tʃuːd/ [C1] (n): sự đơn độc

propel /prəˈpel/ (v): thúc đẩy

awaken /əˈweɪ.kən/ (v): đánh thức

impulse /ˈɪm.pʌls/ (n): cơn bốc đồng

poetry /ˈpəʊ.ɪ.tri/ [B1] (adj): thơ mộng

pragmatism /ˈpræɡ.mə.tɪ.zəm/ (n): chủ nghĩa thực dụng

cement /sɪˈment/ (v): củng cố

tumultuous /tʃuːˈmʌl.tʃu.əs/ (adj): hỗn loạn

reverberate /rɪˈvɜː.bər.eɪt/ (v): phản ánh

implement /ˈɪm.plɪ.ment/ [B2] (v): thực hiện

enshrine /ɪnˈʃraɪn/ (v): ghi nhận

exceed /ɪkˈsiːd/ [C1] (v): vượt quá

norm /nɔːm/ [C1] (n): thông lệ

reorient (v): tái định hướng

boon /buːn/ (n): lợi ích

in line with [C2] (pre): phù hợp với

alter /ˈɒl.tər/ [B2] (v): thay đổi

decree /dɪˈkriː/ (n): sắc lệnh

ongoing /ˈɒŋˌɡəʊ.ɪŋ/ [C2] (adj): đang diễn ra

constitute /ˈkɒn.stɪ.tʃuːt/ [C1] (v): tạo nên

tensely /ˈtens.li/ (adv): căng thẳng

appall at sb/sth /əˈpɔl/ (v): bất bình với ai/cái gì

accommodate sth to sth /əˈkɒm.ə.deɪt/ (v): điều chỉnh cái gì cho phù hợp với cái gì

holy /ˈhəʊ.li/ [C1] (v): thánh

bloodshed /ˈblʌd.ʃed/ (n): sự đổ máu

dogma /ˈdɒɡ.mə/ (n): sự giáo điều


ỦNG HỘ READ TO LEAD!

Chào bạn! Có thể bạn chưa biết, Read to Lead là một trang giáo dục phi lợi nhuận với mục đích góp phần phát triển cộng đồng người học tiếng Anh tại Việt Nam. Chúng tôi không yêu cầu người đọc phải trả bất kỳ chi phí nào để sử dụng các sản phẩm chất lượng của mình để mọi người đều có cơ hội học tập tốt hơn. Tuy nhiên, nếu bạn có thể, chúng tôi mong nhận được sự hỗ trợ tài chính từ bạn để duy trì hoạt động của trang và phát triển các sản phẩm mới.

Bạn có thể ủng hộ chúng tôi qua 1 trong 2 cách dưới đây.
– Cách 1: Chuyển tiền qua tài khoản Momo.
Số điện thoại 0886.630.599 (Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương Thảo)
Nội dung chuyển tiền: Ủng hộ Read to Lead
hoặc
– Cách 2: Chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng.
Ngân hàng VIB chi nhánh Hải Phòng
Số tài khoản: 071704060005623 (Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương Thảo)
Nội dung chuyển tiền: Ủng hộ Read to Lead