Japanese fear automation will take more jobs than foreigners

0
831

Nearly 90% of Japanese think robots and computers will take over most of the jobs in the next half century. – Gần 90% người Nhật nghĩ rằng robot và máy tính sẽ đảm nhận hầu hết các công việc trong nửa thế kỷ tới.

TOKYO — The Japanese public is happier about the economy than at any time in nearly two decades, though few think the next generation will have it as good. People’s biggest fear is automation, not foreigners, taking jobs from local workers.

TOKYO – Công chúng Nhật Bản [đang có tỷ lệ] hài lòng cao nhất trong vòng gần hai thập kỷ qua về nền kinh tế của đất nước, mặc dù ít người nghĩ rằng sự hài lòng đó sẽ được duy trì đến thế hệ tiếp theo. Nỗi sợ lớn nhất của mọi người là rằng máy móc, chứ không phải người nước ngoài, sẽ lấy đi công việc của cư dân địa phương.

While 44% of respondents to a Pew Research Center survey said the current economic situation is good, 15% answered that today’s children will be better off than their parents.

Trong khi 44% số người được hỏi trong một cuộc khảo sát của Trung tâm nghiên cứu Pew cho biết tình hình kinh tế hiện tại là tốt, 15% trả lời rằng trẻ em Nhật Bản ngày nay sẽ khá giả hơn cha mẹ chúng.

Nearly 90% think robots and computers will be doing much of the work currently done by humans in the next half century. Some 83% see this causing greater inequality, 74% believe people will have trouble finding work and 58% think automation will not generate better jobs.

Gần 90% nghĩ rằng trong nửa thế kỷ tới robot và máy tính sẽ đảm nhiệm phần lớn công việc mà hiện nay vẫn do con người thực hiện. Có tới 83% thấy rằng điều này sẽ gây ra sự bất bình đẳng lớn hơn, 74% tin rằng mọi người sẽ gặp khó khăn khi tìm việc và 58% nghĩ rằng tự động hóa sẽ không tạo ra việc làm tốt hơn.

Japan is the world’s fourth most automated economy, after South Korea, Singapore and Germany, according to a 2018 report by the International Federation of Robotics. In 2016, the country had 303 industrial robots per 10,000 workers in the manufacturing industry.

Nhật Bản là nền kinh tế có tỷ lệ tự động hóa cao thứ tư thế giới, sau Hàn Quốc, Singapore và Đức, theo báo cáo năm 2018 của Liên đoàn Robot quốc tế. Vào năm 2016, cả nước Nhật có 303 robot công nghiệp trên 10.000 công nhân trong ngành sản xuất.

Other nations share Japan’s concerns about automation in the workplace. A separate Pew survey in the U.S. last year showed Americans are roughly twice as likely to express worry than enthusiasm about a future in which robots and computers are capable of doing many jobs currently done by humans.

Các quốc gia khác cũng chia sẻ mối quan tâm của Nhật Bản về tự động hóa tại nơi làm việc. Một khảo sát riêng của Pew ở Hoa Kỳ vào năm ngoái cho thấy rằng gần gấp đôi người Mỹ bày tỏ sự lo ngại thay vì sự háo hức về một tương lai trong đó robot và máy tính có khả năng thực hiện nhiều công việc mà hiện đang được con người đảm nhiệm.

While there are greater numbers of foreigners and women working in the country, Japan is using automation to make up for a shrinking labor force as the population grays and declines. The tight labor market is reflected in the country’s jobs-to-applicants ratio, which hit a 44-year-high of 1.64 in September, as well as in the overall unemployment rate of 2.3%, close to the lowest level since 1992.

Trong khi có một lượng lớn người nước ngoài và phụ nữ đang làm việc trong nước, Nhật Bản đang sử dụng máy móc để bù đắp cho lực lượng lao động đang co lại khi dân số già hóa và suy giảm. Thị trường thiếu thốn lao động được phản ánh ở tỷ lệ việc làm trên ứng cử viên của đất nước này, đạt mức cao nhất trong 44 năm qua với 1,64 (cứ 1,64 chỗ trống thì chỉ có 1 người xin việc) vào tháng 9, cũng như tỷ lệ thất nghiệp chung là 2,3%, gần với mức thấp nhất kể từ năm 1992. 

But there is some positive sentiment toward robots in the workplace. About 74% see automation making Japan’s economy more efficient, and younger adults (aged 18-29) see it leading to new, higher-paying employment.

Nhưng có một số quan điểm đồng thuận với robot tại nơi làm việc. Khoảng 74% [người tham gia khảo sát] thấy rằng tự động hóa làm cho nền kinh tế Nhật Bản trở nên hiệu quả hơn, và những người trẻ hơn (trong độ tuổi 18-29) thấy rằng điều này dẫn đến những công việc mới, lương cao hơn.

Japan’s demographic decline has also pushed Prime Minister Shinzo Abe’s government to come up with a plan to accept more foreign workers — a dramatic shift in Japan’s stance on immigration.

Sự suy giảm về nhân khẩu học của Nhật Bản cũng đã thúc đẩy chính phủ của Thủ tướng Shinzo Abe đưa ra kế hoạch chấp nhận nhiều lao động nước ngoài hơn – một sự thay đổi mạnh mẽ trong lập trường của Nhật Bản về vấn đề nhập cư.

The plan, submitted to parliament earlier this month, creates two visa categories to cover overseas workers in 14 sectors facing the most severe labor shortages. Agriculture, nursing care and construction are among the sectors.

Kế hoạch này, được đệ trình lên quốc hội vào đầu tháng qua, đưa ra hai loại thị thực cho người phép người lao động nước ngoài trong 14 lĩnh vực đối mặt với tình trạng thiếu lao động nghiêm trọng nhất. Nông nghiệp, điều dưỡng và xây dựng nằm trong những lĩnh vực.

But some conservative members of Abe’s ruling Liberal Democratic Party have attacked the bill, seeing it has potentially paving the way to permanent residency. Others have cited a possible increase in crime and the challenge of handling increased arrivals.

Nhưng một số thành viên bảo thủ của Đảng Dân chủ Tự do cầm quyền của ông Abe đã tấn công dự luật này, vì họ thấy điều đó có khả năng mở đường cho việc cấp quyền công dân vĩnh viễn. Những người khác đã chỉ ra sự gia tăng nguy cơ tội phạm và thách thức trong việc xử lý [các vấn đề] do gia tăng người nhập cư.

Asked by Pew about the number of immigrants, 23% of respondents said the government should allow more people to enter the country, 13% saying there should be fewer and 58% answered that the number should remain near the current level.

Khi được hỏi bởi Pew về số lượng người nhập cư, 23% số người được khảo sát cho biết chính phủ nên cho phép nhiều người được nhập cư vào đất nước, 13% nói rằng nên có ít người nhập cư hơn và 58% trả lời rằng con số này vẫn nên được giữ ở gần mức hiện tại.

About three-quarters of the respondents said immigrants currently in Japan want to assimilate, and 59% believe foreign workers make Japan stronger. About one-third see those coming from overseas as a burden on society by taking jobs or relying on social benefits.

Khoảng ba phần tư số người được hỏi cho biết người nhập cư hiện đang ở Nhật Bản muốn đồng hóa (biến đổi văn hóa của nước Nhật) và 59% tin rằng lao động nước ngoài làm cho Nhật Bản trở nên mạnh mẽ hơn. Khoảng một phần ba xem những người đến từ nước ngoài như một gánh nặng cho xã hội do họ lấy đi công ăn việc làm hoặc dựa vào trợ cấp xã hội.

People were more split on whether foreigners are more to blame for crime than other groups — 52% said they are no more at fault, with 40% saying they are more responsible.

Quan điểm của mọi người chia rẽ nhiều hơn về việc liệu người nước ngoài có gây ra nhiều tội lỗi hơn hay không – 52% nói rằng họ chẳng có gì sai trái hơn [người địa phương], trong khi 40% nói rằng người nước ngoài phạm tội nhiều hơn.

The number of foreigners in Japan was about 2 million in 2015, according to Japan’s statistical bureau, with 1.3 million Japanese living abroad.

Vào năm 2015 có khoảng 2 triệu người nước ngoài ở Nhật Bản, theo cục thống kê của Nhật Bản, trong khi có 1,3 triệu người Nhật sống ở nước ngoài.

The Pew survey shows that the public is more concerned about emigration than immigration. About six-in-ten said people leaving Japan for jobs in other countries is a problem, up from 39% in 2002.

Khảo sát của Pew cho thấy công chúng Nhật quan tâm đến vấn đề di cư hơn là nhập cư. Khoảng sáu trên mười người nói rằng việc người rời Nhật Bản đi làm ở các nước khác là một vấn đề, tỷ lệ này tăng so với mức 39% vào năm 2002.

Other survey findings include:

Các kết quả khảo sát khác bao gồm:

— 48% of respondents have confidence in Abe to do the right thing in world affairs, down from 62% in 2015

48% số người được hỏi tin tưởng rằng ông Abe đang đúng trong các vấn đề thế giới, giảm so với mức 62% vào năm 2015

— 40% are satisfied with the way democracy is working in Japan, down from 50% last year.

40% hài lòng với cách làm việc dân chủ ở Nhật Bản, giảm so với mức 50% năm ngoái.

— 62% said they do not believe elections change anything.

62% cho biết họ không tin rằng bầu cử có thể thay đổi điều gì.

— 67% have a positive opinion about the U.S., but only three in ten have confidence in President Donald Trump.

67% có ý kiến tích cực về Hoa Kỳ, nhưng chỉ ba phần mười có niềm tin vào Tổng thống Donald Trump.

— 81% would chose the U.S. to be the world’s leading power over China (8%).

81% sẽ chọn Hoa Kỳ nên là cường quốc hàng đầu thế giới thay vì Trung Quốc (8%).

— 17% have a favorable opinion of China, up from 5% in 2013.

17% có ý kiến ủng hộ Trung Quốc, tăng so với mức 5% vào năm 2013.

— 65% chose German Chancellor Angela Merkel when asked who they are confident in to handle global affairs.

65% chọn Thủ tướng Đức Angela Merkel khi được hỏi họ tự tin vào ai trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu.

Pew surveyed 1,016 people in Japan between May 24 and June 19.

Pew đã khảo sát 1.016 người tại Nhật Bản trong khoảng thời gian từ 24 tháng 5 đến 19 tháng 6.

Source: https://asia.nikkei.com/Economy/Japanese-fear-automation-will-take-more-jobs-than-foreigners?fbclid=IwAR0usgepqbMFXlEh_-3aC8K_Cf7zxAXkzko1TfmMHgaodv2mztjKbwH9JlU

WORD BANK:

better off (adj): khá giả

roughly /ˈrʌf.li/ [B2] (adv): khoảng

make up for (v): bù đắp cho

shrink /ʃrɪŋk/ [B2] (v): co lại

gray /ɡreɪ/ (v): già hóa

sentiment /ˈsen.tɪ.mənt/ (n): sự đồng thuận

demographic /ˌdem.əˈɡræf.ɪk/ (adj): thuộc nhân khẩu học

stance /stɑːns/ [C2] (n): lập trường

immigration /ˌɪm.ɪˈɡreɪ.ʃən/ [B2] (n): nhập cư

emigration /ˌemɪˈɡreɪʃən/ (n): di cư

parliament /ˈpɑː.lɪ.mənt/ [B2] (n): quốc hội

severe /sɪˈvɪər/ [B2] (adj): nghiêm trọng

conservative /kənˈsɜː.və.tɪv/ [C1] (adj): bảo thủ

pave way to / for (v): mở đường cho

permanent /ˈpɜː.mə.nənt/ [B1] (n): vĩnh viễn

residency /ˈrez.ɪ.dən.si/ (n): quyền công dân

assimilate /əˈsɪm.ɪ.leɪt/ (v): đồng hóa

burden /ˈbɜː.dən/ [C1] (n): gánh nặng

be at fault /fɒlt/ [B2] (v): làm điều sai trái

favorable /ˈfeɪ.vər.ə.bəl/ (adj): thuận lợi, ủng hộ


ỦNG HỘ READ TO LEAD!

Chào bạn! Có thể bạn chưa biết, Read to Lead là một trang giáo dục phi lợi nhuận với mục đích góp phần phát triển cộng đồng người học tiếng Anh tại Việt Nam. Chúng tôi không yêu cầu người đọc phải trả bất kỳ chi phí nào để sử dụng các sản phẩm chất lượng của mình để mọi người đều có cơ hội học tập tốt hơn. Tuy nhiên, nếu bạn có thể, chúng tôi mong nhận được sự hỗ trợ tài chính từ bạn để duy trì hoạt động của trang và phát triển các sản phẩm mới.

Bạn có thể ủng hộ chúng tôi qua 1 trong 2 cách dưới đây.
– Cách 1: Chuyển tiền qua tài khoản Momo.
Số điện thoại 0886.630.599 (Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương Thảo)
Nội dung chuyển tiền: Ủng hộ Read to Lead
hoặc
– Cách 2: Chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng.
Ngân hàng VIB chi nhánh Hải Phòng
Số tài khoản: 071704060005623 (Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương Thảo)
Nội dung chuyển tiền: Ủng hộ Read to Lead