MH370 five years of theories about one of aviation’s greatest mysteries

0
542

More than 200,000sq km has been searched in the hunt for flight MH370 and last year, the search was officially suspended. – Hơn 200.000 km2 đã được rà soát trong cuộc săn tìm chuyến bay MH370 và năm ngoái, cuộc tìm kiếm đã chính thức bị dừng lại.

Years after the plane disappeared with 239 people on board, experts are still unsure where it crashed and why.

Nhiều năm sau khi chiếc máy bay biến mất với 239 người, các chuyên gia vẫn không chắc nó bị rơi ở đâu và tại sao.

On March 8th, 2014, Malaysia Airlines flight MH370 left Kuala Lumpur for Beijing and never landed.

Vào ngày 8 tháng 3 năm 2014, chuyến bay MH370 của Malaysia Airlines rời Kuala Lumpur đến Bắc Kinh và không bao giờ hạ cánh.

Since then, the most expensive underwater search in history has failed to find it, and authorities are no closer to figuring out why, 40 minutes into what should have been a six hour flight, MH370 diverted and flew towards the southern Indian Ocean with 239 people on board.

Kể từ đó, cuộc tìm kiếm dưới nước tốn kém nhất trong lịch sử vẫn không tìm ra nó và các nhà chức trách không thể tìm ra lý do tại sao, 40 phút sau chuyến bay vẫn thường kéo dài sáu giờ, MH370 đã chuyển hướng và bay về phía nam Ấn Độ Dương với 239 người đó.

Theories abound about why the plane disappeared, and where it can be found. Some have changed, some have been discredited, and new theories have emerged, as search after search has failed to end one of aviation’s greatest mysteries.

Có rất nhiều giả thiết về lý do tại sao chiếc máy bay biến mất, và nơi nó có thể được tìm thấy. Một số [lý thuyết] đã thay đổi, một số đã bị gạt bỏ và các lý thuyết mới đã xuất hiện, vì hết cuộc tìm kiếm này đến cuộc tìm kiếm khác đều đã thất bại trong việc trả lời một trong những bí ẩn lớn nhất của ngành hàng không.

2014: A northern landing – Năm 2014: [giả thiết] về một cú hạ cánh ở phương Bắc

In the immediate, confused aftermath, an early theory suggested MH370 had been taken, not south into the sea, but north into central Asia.

Ngay sau đó, một lý thuyết ban đầu cho rằng MH370 đã được đưa, không phải xuống phía nam về phía biển, mà là về phía bắc vào trung tâm châu Á.

This (now-discredited) theory initially had some basis in fact, based on the different ways in which MH370 was tracked.

Giả thiết này (hiện đã mất bị gạt bỏ) ban đầu có một số cơ sở trên thực tế, dựa trên các cách khác nhau mà MH370 được theo dõi.

MH370 first “disappeared” when it turned off its transponder, causing it to vanish from civilian flight tracking after 40 minutes of flying. However, investigators could still track it using military radar, which gives a precise, physical location.

MH370 đầu tiên đã “biến mất”, khi nó tắt bộ phát tín hiệu, khiến nó biến mất khỏi các thiết bị theo dõi máy bay dân sự sau 40 phút bay. Tuy nhiên, các nhà điều tra vẫn có thể theo dõi nó bằng radar quân sự, thứ cho thấy vị trí chính xác.

Through radar, we know MH370 started on a north-east route to Beijing, then turned and flew south-west, and then turned again, heading north-west, up towards India. But then radar coverage cut out.

Thông qua radar, chúng ta biết MH370 bắt đầu trên tuyến đường đông bắc đến Bắc Kinh, sau đó quay đầu và bay về phía tây nam, rồi quay lại, đi về hướng tây bắc, hướng về Ấn Độ. Nhưng sau đó, vùng phủ sóng radar bị cắt.

After that, investigators had to use satellite data for the rest of MH370’s journey. Satellite data cannot pinpoint a plane’s position, but places it in a range that forms a circle, with the satellite at the centre. The satellite data showed MH370 was travelling further and further away from the satellite – but it was unknown whether it was moving south towards the sea near Australia (which required another turn), or was moving north and inland into Asia.

Sau đó, các nhà điều tra đã phải sử dụng dữ liệu vệ tinh cho phần còn lại của hành trình MH370. Dữ liệu vệ tinh không thể xác định chính xác vị trí máy bay, nhưng đặt nó trong một phạm vi tạo thành một vòng tròn, với vệ tinh ở trung tâm. Dữ liệu vệ tinh cho thấy MH370 di chuyển ngày càng xa khỏi vệ tinh – nhưng không biết liệu nó có di chuyển về phía nam về phía biển gần Australia (điều đòi hỏi một lần chuyển hướng khác) hay di chuyển về phía bắc vào nội địa vào châu Á.

However, this northern landing idea was debunked by the company that owned the satellite, Inmarsat, and further refuted in 2015 by the discovery of debris off the coast of Africa.

Tuy nhiên, ý tưởng hạ cánh ở phía bắc đã được công ty sở hữu vệ tinh Inmarsat phản bác và tiếp tục bị bác bỏ vào năm 2015 với việc phát hiện ra các mảnh vỡ ngoài khơi châu Phi.

2015: A ‘mass hypoxia event’ and a crash near Western Australia – Năm 2015: [giả thiết] một vụ “mất áp suất nghiêm trọng” và một vụ tai nạn gần miền Tây nước Úc

In 2015, debris confirmed to be from MH370 washed up on a series of beaches across east Africa.

Vào năm 2015, các mảnh vỡ được xác nhận là từ MH370 trôi dạt trên một loạt các bãi biển trên khắp phía đông châu Phi.

Not only did this confirm the plane was not intact, but modelling of ocean currents concluded that MH370 crashed in the southern Indian Ocean near Western Australia, and ocean currents then transported debris to Africa a year later.

Điều này không chỉ xác nhận rằng chiếc máy bay không còn nguyên vẹn, mà mô hình của các dòng hải lưu đã kết luận rằng MH370 đã bị rơi ở phía nam Ấn Độ Dương gần Tây Úc, và các dòng hải lưu sau đó vận chuyển các mảnh vỡ đến châu Phi một năm sau đó.

MH370 could not have crashed in Africa, investigators said, because the satellite data was consistent only with a journey south-east into the southern Indian Ocean.

MH370 không thể bị rơi ở châu Phi, các nhà điều tra cho biết, bởi vì dữ liệu vệ tinh chỉ phù hợp với hành trình về phía đông nam đến phía nam Ấn Độ Dương.

A piece of debris, later confirmed to come from MH370, was found washed ashore in Saint-Andre de la Reunion, eastern La Reunion island off the coast of Africa in the Indian Ocean. – Một mảnh vỡ, sau đó được xác nhận là từ MH370, đã được tìm thấy dạt vào bờ biển Saint-Andre de la Reunion, hòn đảo phía đông La Reunion ngoài khơi châu Phi ở Ấn Độ Dương.

Meanwhile, authorities and experts speculated that some kind of fire, accident or malfunction broke out on board which caused the plane to divert in search of an emergency landing.

Trong khi đó, các nhà chức trách và các chuyên gia suy đoán rằng một số loại hỏa hoạn, tai nạn hoặc trục trặc đã xảy ra trên máy bay khiến chiếc máy bay phải chuyển hướng trong khi tìm cách hạ cánh khẩn cấp.

Then, the theory goes, the accident caused a “mass hypoxia event” (i.e: a loss of oxygen) which knocked out the crew and passengers before they could land. Once they were unconscious, the plane kept flying on autopilot over the Indian Ocean until it ran out of fuel.

Sau đó, lý thuyết này tiếp tục đưa ra rằng vụ tai nạn đã gây ra mất áp suất nghiêm trọng (tức là mất oxy) khiến phi hành đoàn và hành khách bất tỉnh trước khi họ có thể hạ cánh. Khi họ bất tỉnh, chiếc máy bay tiếp tục bay tự động trên Ấn Độ Dương cho đến khi hết nhiên liệu.

The hypoxia theory – which concludes that the pilot, captain Zaharie Ahmad Shah, was unconscious at the end of the journey – is still the current official theory of the Malaysian government and the Australian Transport Safety Bureau (ATSB).

Giả thuyết mất áp suất – kết luận rằng phi công, cơ trưởng Zaharie Ahmad Shah, đã bất tỉnh ở cuối hành trình – vẫn là lý thuyết chính thức hiện tại của chính phủ Malaysia và Cục An toàn Giao thông Úc (ATSB).

2016: A deliberate course – Năm 2016: [giả thiết] về một vụ tự sát

In 2016, US investigators and the ATSB discovered that the personal flight simulator in Captain Zaharie’s home had been used to draft a route into the southern Indian Ocean, similar to the route believed to be taken that fateful day.

Vào năm 2016, các nhà điều tra Mỹ và ATSB đã phát hiện ra rằng thiết bị mô phỏng chuyến bay cá nhân trong nhà của Cơ trưởng Zaharie, đã được sử dụng để phác thảo một tuyến đường về phía nam Ấn Độ Dương, tương tự như tuyến đường được cho là được thực hiện vào ngày định mệnh đó.

But the ATSB immediately denied that this was proof Zaharie diverted the plane on purpose, or as part of a planned murder-suicide.

Nhưng ATSB ngay lập tức phủ nhận rằng đây là bằng chứng cho thấy Zaharie đã chuyển hướng máy bay có chủ đích, hoặc là một phần của một vụ giết người – tự sát có kế hoạch.

It has never been confirmed whether Zaharie himself plotted the route, or whether someone else did. His family also said he “loved life”, had an unblemished flying record and would never crash the plane deliberately.

Người ta chưa bao giờ xác nhận được liệu Zaharie có vạch ra lộ trình bay đó hay không, hay liệu có ai khác đã làm điều này. Gia đình ông cũng cho biết ông rất “yêu đời”, có một thành tích bay không tì vết và sẽ không bao giờ cố tình đâm máy bay [xuống biển].

In the years since, the Malaysian government has continued to refute the “rogue pilot” theory, and re-advance the theory that Zaharie was unconscious and the victim of an accident.

Trong những năm kể từ đó, chính phủ Malaysia đã tiếp tục bác bỏ lý thuyết “phi công lừa đảo”, và lần nữa đưa ra lý thuyết rằng Zaharie đã bất tỉnh và là nạn nhân của một vụ tai nạn.

Zaharie Ahmad Shah, one of the two pilots on board the missing MH370 plane, which went missing in 2014. – Zaharie Ahmad Shah, một trong hai phi công trên chuyến bay MH370, đã mất tích năm 2014.

2017: The 25,000sq km priority zone – Năm 2017: khu vực ưu tiên rộng 25.000 km2

In 2017, the ATSB released its most comprehensive report into the mystery. The Australian government body had been searching since 2014, and covered 120,000 sq km.

Năm 2017, ATSB đã công bố báo cáo toàn diện nhất về bí ẩn này. Cơ quan chính phủ Úc đã tìm kiếm từ năm 2014, và bao phủ 120.000 km vuông.

The ATSB’s final report failed to find the plane, but put forward two theories.

Báo cáo cuối cùng của ATSB đã thất bại trong việc tìm ra chiếc máy bay, nhưng đưa ra hai giả thuyết.

The first was the same unconscious pilot theory. However, the ATSB provided new evidence. They said the plane entered the water at a “high and increasing rate of descent”, meaning it was free-falling and the pilot was unconscious.

Đầu tiên cũng là lý thuyết phi công bất tỉnh. Tuy nhiên, ATSB cung cấp bằng chứng mới. Họ nói rằng chiếc máy bay đã rơi xuống nước ở “độ cao lớn và tốc độ tăng dần,” có nghĩa là nó rơi tự do và phi công đã bất tỉnh.

The second theory was that a small new area – called the “priority zone” – located just north of their failed search, was probably the final location of MH370.

Giả thuyết thứ hai là một khu vực nhỏ mới – được gọi là “khu vực ưu tiên” – nằm ở phía bắc của khu vực tìm kiếm thất bại [trước đó] của họ, có lẽ là vị trí cuối cùng của MH370.

While the ATSB had not actually searched the “priority zone”, they said a re-analysis of evidence meant they were more confident than ever that MH370 lay there – and urged future searchers to explore it.

Mặc dù ATSB chưa thực sự tìm kiếm khu vực ưu tiên, họ cho biết việc phân tích lại bằng chứng có nghĩa là họ tin tưởng hơn bao giờ hết rằng MH370 nằm ở đó – và thúc giục những người tìm kiếm trong tương lai khám phá khu vực này.

2018: A conscious pilot and a ‘controlled ditching’ – Năm 2018: [giả thiết] một phi công vẫn tỉnh táo và một vụ ‘hạ cánh có kiểm soát’

In 2018, the 25,000sq km “priority zone” was searched – to no avail.

Năm 2018, khu vực ưu tiên 25.000 km2 đã được tìm kiếm – không có kết quả.

US company Ocean Infinity searched the area for months on a no-find, no-fee contract with the Malaysian government. Though hopes were initially high, they found nothing. They moved on even further north, then even further – all with no success.

Công ty Ocean Infinity của Mỹ đã tìm kiếm khu vực này trong nhiều tháng với một hợp đồng không tìm thấy thì không nhận tiền với chính phủ Malaysia. Mặc dù hy vọng ban đầu rất cao, nhưng họ không tìm thấy gì. Họ đã tiến xa hơn về phía bắc, rồi thậm chí xa hơn nữa – tất cả đều không thành công.

The failure of the 2018 search sparked a re-thinking of the accepted wisdom.

Thất bại của cuộc tìm kiếm năm 2018 đã làm dấy lên câu hỏi về những hiểu biết của chúng ta.

The “priority zone” was based on the assumption that when MH370 ran out of fuel, Zaharie was unconscious, and the plane sharply fell into the sea. Thus the search area was located very close to where the fuel ran out (which we know via satellite data).

“Khu vực ưu tiên” dựa trên giả định rằng khi MH370 hết nhiên liệu, Zaharie đã bất tỉnh và máy bay rơi mạnh xuống biển. Do đó, khu vực tìm kiếm được đặt rất gần với nơi hết nhiên liệu (mà chúng ta biết thông qua dữ liệu vệ tinh).

But the failure to find MH370 close to the fuel exhaustion point led some to argue the plane did not drop so steeply. A theory, put forward by former pilot Simon Hardy and others, said Zaharie was awake and guided the plane in a long glide or “controlled ditching” once it ran out of fuel.

Nhưng việc không tìm thấy MH370 gần điểm cạn kiệt nhiên liệu đã khiến một số người cho rằng máy bay đã không lao dốc. Một lý thuyết, được đưa ra bởi cựu phi công Simon Hardy và những người khác, cho biết Zaharie đã tỉnh táo và điều khiển chiếc máy bay lượn dài hoặc “hạ cánh có kiểm soát trên biển” ngay khi máy bay hết nhiên liệu.

If MH370 glided, it could have travelled up to 200km further than had been assumed – which would explain why no search has been able to find it.

Nếu chiếc máy bay MH370 lướt đi, nó có thể đã đi xa hơn 200km so với giả định – điều này có thể giải thích tại sao chưa có cuộc tìm kiếm nào có thể tìm thấy nó.

On an epiisode of Australia’s 60 Minutes, former pilots said Zaharie could have purposely depressurized the plane to knock out its passengers and crew, used his own personal air supply to stay conscious, and then re-pressurized the plane so he could have enacted this plan uninterrupted.

Trong một tập của chương trình Australia’s 60 Minutes, các cựu phi công cho biết Zaharie có thể đã cố tình giảm áp suất máy bay để hạ gục hành khách và phi hành đoàn, sử dụng nguồn cung cấp dưỡng khí cá nhân để giữ mình tỉnh táo, và sau đó tăng áp lực lại máy bay trở lại để có thể thực hiện kế hoạch này mà không bị gián đoạn.

At an appearance before the Australian senate, a top ATSB official rejected this. Peter Foley said Zaharie, who was “53 and overweight” would have been knocked out if he tried this, and any attempt to knock his crew out would give himself decompression sickness.

Trong một lần xuất hiện trước thượng viện Úc, một quan chức hàng đầu của ATSB đã bác bỏ điều này. Peter Foley cho biết Zaharie, người “đã 53 tuổi và thừa cân” sẽ bị đánh gục nếu ông ta thử làm điều này, và bất kỳ nỗ lực nào để làm phi hành đoàn bất tỉnh sẽ khiến ông ta gặp vấn đề với việc giảm áp suất.

The plane also could not have been in a “controlled ditching”, he said, because the ATSB data from 2017 already proved the plane was in a “high and increasing rate of descent” in its final moments.

Chiếc máy bay này cũng không thể “hạ cánh có kiểm soát trên mặt nước” được, ông nói, bởi vì dữ liệu của ATSB từ năm 2017 đã chứng minh rằng chiếc máy bay này đã “lao dốc với tốc độ ngày càng tăng” trong những giây phút cuối cùng.

2019: We’re still no closer – Năm 2019: Chúng ta vẫn chưa tiến được đến gần hơn

At the five-year anniversary of MH370’s disappearance, with a combined 200,000sq km covered without success, there is still no conclusive evidence of where it crashed, and even less evidence about what caused it.

5 năm sau ngày mất tích của MH370, với tổng cộng 200.000 km vuông được rà soát mà không thành công, vẫn không có bằng chứng thuyết phục về nơi nó bị rơi và thậm chí còn có ít bằng chứng về nguyên nhân gây ra điều đó.

The most recent Malaysian government report revealed essentially nothing new. Tabled in 2018, it was initially billed as a “final report”, until its lack of information and outrage from families caused the government to backtrack on this.

Báo cáo gần đây nhất của chính phủ Malaysia về cơ bản không có gì mới. Được đưa ra vào năm 2018, ban đầu nó được lập ghi là “báo cáo cuối cùng”, cho đến khi sự thiếu thông tin và sự phẫn nộ từ các gia đình [nạn nhân] khiến chính phủ phải xem xét lại điều này.

Also in 2018, a branch of the French police force – the Gendarmerie Air Transport – announced they would launch an investigation into the way the satellite data was collected. The investigation is still ongoing – with no updates as yet.

Cũng vào năm 2018, một chi nhánh của lực lượng cảnh sát Pháp – Gendarmerie Air Transport – tuyên bố họ sẽ mở một cuộc điều tra về cách thu thập dữ liệu từ vệ tinh. Cuộc điều tra vẫn đang tiếp diễn – chưa có gì mới.

In 2019, the Malaysian transport minister, Anthony Loke, said he was open to re-starting the search if he receives a good offer, and Ocean Infinity, when they reluctantly called off their search in 2018, said they were willing to start again.

Năm 2019, Bộ trưởng giao thông Malaysia, Anthony Loke, cho biết ông sẵn sàng bắt đầu lại cuộc tìm kiếm nếu nhận được một lời đề nghị tốt, và Ocean Infinity, khi họ buộc phải ngừng cuộc tìm kiếm vào năm 2018, cho biết họ sẵn lòng bắt đầu lại.

Source: https://www.theguardian.com/world/2019/mar/07/mh370-five-years-of-theories-about-one-of-aviations-greatest-mysteries?fbclid=IwAR3kLARIPk2fHkeLOFAZGVI5NPc-Is1UbaUdfy0VtUR-hBCW45izAJIvN6M

WORD BANK:

divert /daɪˈvɜːt/ [C2] (v): chuyển hướng

abound /əˈbaʊnd/ (v): có rất nhiều (giả thiết)

discredit /dɪˈskred.ɪt/ (v): gạt bỏ

emerge /ɪˈmɜːdʒ/ [B2] (v): xuất hiện

aftermath /ˈɑːf.tə.mæθ/ (n): sau đó

transponder /trænˈspɒn.dər/ (n): bộ phát tín hiệu

vanish /ˈvæn.ɪʃ/ [B2] (v): biến mất

coverage /ˈkʌv.ər.ɪdʒ/ (n): vùng bao phủ

pinpoint /ˈpɪn.pɔɪnt/ [C2] (v): xác định (vị trí)

refute /rɪˈfjuːt/ (v): bác bỏ

debris /ˈdeb.riː/ (n): mảnh vỡ

intact /ɪnˈtækt/ [C2] (adj): nguyên vẹn

ocean current /ˈəʊ.ʃən ˈkʌr.ənt/ (n): dòng hải lưu

consistent with sth /kənˈsɪs.tənt/ [C2] (adj): phù hợp với cái gì

speculate /ˈspek.jə.leɪt/ [C2] (v): suy đoán

malfunction /ˌmælˈfʌŋk.ʃən/ (n): trục trặc

unconscious /ʌnˈkɒn.ʃəs/ [B2] (adj): bất tỉnh

simulator /ˈsɪm.jə.leɪ.tər/ (n): máy mô phỏng, thiết bị mô phỏng

draft /drɑːft/ [B2] (v): phác thảo

route /ruːt/ [B1] (n): tuyến đường

fateful /ˈfeɪt.fəl/ (adj): định mệnh

unblemished /ʌnˈblem.ɪʃt/ (adj): không tì vết

deliberate /dɪˈlɪb.ər.ət/ [B2] (adj): cố tình

rogue /rəʊɡ/ (adj): lừa đảo

comprehensive /kɒm.prɪˈhen.sɪv/ (adj): toàn diện

urge /ɜːdʒ/ [C2] (v): thúc giục

avail /əˈveɪl/ (n): kết quả.

initial /ɪˈnɪʃ.əl/ [B2] (adj): ban đầu

spark /spɑːk/ [C2] (v): làm dấy lên

steep /stiːp/ [C1] (adj): dốc

episode /ˈep.ɪ.səʊd/ [B2] (n): tập

senate /ˈsen.ət/ (n): thượng viện

conclusive /kənˈkluː.sɪv/ [C2] (adj): thuyết phục

outrage /ˈaʊt.reɪdʒ/ (n): sự phẫn nộ từ các gia đình [nạn nhân] khiến chính phủ phải xem xét lại điều này.

ongoing /ˈɒŋˌɡəʊ.ɪŋ/ [C2] (adj): đang tiếp diễn

reluctantly /rɪˈlʌk.tənt.li/ [C1] (adv): miễn cưỡng


ỦNG HỘ READ TO LEAD!

Chào bạn! Có thể bạn chưa biết, Read to Lead là một trang giáo dục phi lợi nhuận với mục đích góp phần phát triển cộng đồng người học tiếng Anh tại Việt Nam. Chúng tôi không yêu cầu người đọc phải trả bất kỳ chi phí nào để sử dụng các sản phẩm chất lượng của mình để mọi người đều có cơ hội học tập tốt hơn. Tuy nhiên, nếu bạn có thể, chúng tôi mong nhận được sự hỗ trợ tài chính từ bạn để duy trì hoạt động của trang và phát triển các sản phẩm mới.

Bạn có thể ủng hộ chúng tôi qua 1 trong 2 cách dưới đây.
– Cách 1: Chuyển tiền qua tài khoản Momo.
Số điện thoại 0886.630.599 (Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương Thảo)
Nội dung chuyển tiền: Ủng hộ Read to Lead
hoặc
– Cách 2: Chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng.
Ngân hàng VIB chi nhánh Hải Phòng
Số tài khoản: 071704060005623 (Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương Thảo)
Nội dung chuyển tiền: Ủng hộ Read to Lead