Pacific trade deal to boost Vietnam’s economy, drive reforms: World Bank

0
571

Textiles, footwear and beverages are expected to enjoy a boost thanks to lower tariffs.

Các ngành dệt may, giày dép và đồ uống dự kiến sẽ tăng trưởng nhờ biểu thuế thấp hơn.

The Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP) signed by Vietnam and 10 other countries on Thursday will yield robust economic gains for Vietnam, a new World Bank report says.

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, Hiệp định Toàn diện và Tiến bộ cho Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) do Việt Nam và 10 quốc gia khác ký kết sẽ mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho Việt Nam.

According to analysts, multilateral trade agreements such as the CPTPP are expected to boost Vietnam’s investment and export driven growth model.

Theo các nhà phân tích, các hiệp định thương mại đa phương như CPTPP dự kiến sẽ thúc đẩy mô hình tăng trưởng đầu tư và thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam.

The CPTPP will reduce tariffs in countries that together amount to more than 13 percent of the global economy – a total of $10 trillion in gross domestic product. With the United States, it would have represented 40 percent.

CPTPP sẽ giảm thuế quan ở các nước chiếm tới 13% giá trị nền kinh tế toàn cầu – tổng sản phẩm quốc nội của các nước này là 10 nghìn tỷ đô la. Nếu có thêm Hoa Kỳ, nó sẽ chiếm 40%.

Even without the United States, the deal will span a market of nearly 500 million people, making it one of the world’s largest trade agreements, according to Chilean and Canadian trade statistics.

Ngay cả khi không có Hoa Kỳ, thỏa thuận sẽ mở ra một thị trường gần 500 triệu người, làm cho nó trở thành một trong những hiệp định thương mại lớn nhất thế giới, theo số liệu thống kê thương mại của Chilê và Canada.

The CPTPP will increase Vietnam’s GDP by 1.1 percent by 2030, according to the report. “Assuming a modest boost to productivity, the estimated increase of GDP would amount to 3.5 percent from the CPTPP,” said Ousmane Dione, World Bank country director for Vietnam.

Theo báo cáo, CPTPP sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 1,1% vào năm 2030. Ousmane Dione, giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết: “Giả sử mức tăng năng suất khiêm tốn, GDP ước tính sẽ tăng 3,5% nhờ có CPTPP.”

Lower tariffs under the trade deal are expected to help boost Vietnam’s exports by 4 percent, said Tran Toan Thang from the National Center for Socio-economic Information and Forecasting.

Theo ông Trần Toàn Thắng, thuộc Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế – Xã hội Quốc gia, mức thuế thấp hơn theo thỏa thuận thương mại này dự kiến sẽ giúp tăng xuất khẩu của Việt Nam thêm 4%.

Under the CPTPP, exports to signatory countries will increase from the current $54 billion to $80 billion by 2030, reaching 25 percent of total exports, according to the World Bank.

Dưới tác động của CPTPP, giá trị xuất khẩu (của Việt Nam) sang các nước ký kết sẽ tăng từ 54 tỷ USD hiện nay lên 80 tỷ USD vào năm 2030, đạt 25% tổng kim ngạch xuất khẩu, theo Ngân hàng Thế giới.

Textiles, footwear and beverages are expected to enjoy the biggest boost thanks to the lower tariffs.

Các ngành dệt may, giày dép và đồ uống dự kiến sẽ hưởng lợi nhiều nhất nhờ biểu thuế thấp hơn.

For Vietnam’s seafood industry, the biggest impact of the CPTPP may well be improving quality, according to Nikkei Asian Review. The country’s fish – particularly its panga – have been the subject of attacks in Europe and the U.S. over food safety and farming conditions.

Đối với ngành thủy sản Việt Nam, tác động lớn nhất của CPTPP có thể cải thiện chất lượng, theo Nikkei Asian Review. Cá của nước này – đặc biệt là cá basa – là đối tượng chịu tác động ở Châu Âu và Hoa Kỳ về điều kiện an toàn thực phẩm và nuôi trồng.

In February, Vietnam struck back, filing a case against the U.S. for what it called punitive tariffs on its fish, including new rules requiring panga to be inspected by both the U.S. Department of Agriculture and the U.S. Food and Drug Administration.

Vào tháng Hai, Việt Nam đã đấu tranh, đệ đơn kiện Hoa Kỳ về mức thuế mà họ gọi là thuế trừng phạt đối với cá xuất khẩu của Việt Nam, bao gồm các quy định mới yêu cầu cá basa phải được kiểm tra bởi Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ và Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ.

But the CPTPP could improve the reputation of Vietnam’s fish. Japan has high tariffs on seafood, meaning it made little sense for companies to invest the money in techniques that would ensure their catch was up to its high standards. “If those tariffs drop to zero, suddenly there are incentives to figure out how to clear the challenging standards to sell in Japan,” Nikkei quoted Deborah Elms, executive director of the Asian Trade Center in Singapore, as saying. “The upsides of being in Japan are huge for Vietnam.”

Nhưng CPTPP có thể cải thiện danh tiếng của cá Việt Nam. Nhật Bản có mức thuế cao đối với thủy sản, có nghĩa sẽ không có mấy ý nghĩa khi các công ty định đầu tư tiền vào các kỹ thuật để đảm bảo chất lượng khai thác của họ đạt tiêu chuẩn cao. “Nếu các mức thuế này giảm xuống bằng không thì đột nhiên các công ty sẽ có động lực để tìm hiểu làm thế nào để giải quyết các tiêu chuẩn thách thức để bán ở Nhật Bản”, Nikkei trích lời Deborah Elms, Giám đốc Trung tâm Thương mại Châu Á tại Singapore. “Những điểm mạnh khi xuất khẩu vào Nhật Bản là rất lớn đối với Việt Nam.”

Duong Ngoc Minh, owner of the country’s leading panga exporter Hung Vuong, says his company will still benefit from the CPTPP. He sold $20 million worth of seafood to Japan, Canada and Australia last year, but hopes to eventually increase that by 30 percent after the final agreement is signed among the so-called TPP 11 countries at a ceremony in Santiago, Chile, on March 8, according to Nikkei.

Ông Dương Ngọc Minh, chủ doanh nghiệp xuất khẩu cá basa hàng đầu của đất Việt Nam – Hùng Vương, cho biết công ty của ông sẽ vẫn hưởng lợi từ CPTPP. Công ty ông đã bán 20 triệu đô la hải sản sang Nhật Bản, Canada và Úc vào năm ngoái, nhưng hy vọng nó sẽ tăng thêm 30% sau khi hiệp định, tạm gọi là TPP 11 nước, được ký lần cuối tại một buổi lễ ở Santiago, Chile, vào ngày 8 tháng 3 , theo Nikkei.

Boost reform

In addition to boosting exports, the trade deal will create opportunities for domestic private firms to integrate into global value chains and promote the development of the small and medium-sized enterprise (SOE) sector.

Thúc đẩy cải cách

Bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu, thỏa thuận thương mại sẽ tạo cơ hội cho các công ty tư nhân trong nước hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu và thúc đẩy sự phát triển của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (SOE).

“The new agreement will bring direct benefits to Vietnam, from trade liberalization and improved market access. Most importantly, it will help stimulate and accelerate domestic reforms in many areas.” said Sebastian Eckardt, the World Bank Lead Economist for Vietnam. “Delivering commitments under the CPTPP will contribute in promoting transparency and supporting the creation of modern institutions in Vietnam.”

“Thỏa thuận mới sẽ mang lại lợi ích trực tiếp cho Việt Nam, từ tự do hóa thương mại và cải thiện khả năng tiếp cận thị trường. Điều quan trọng nhất là nó sẽ giúp kích thích thúc đẩy cải cách trong nước ở nhiều lĩnh vực. “Ông Sebastian Eckardt, Chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Thế giới, cho biết. “Việc đưa ra các cam kết theo CPTPP sẽ góp phần thúc đẩy tính minh bạch và hỗ trợ việc tạo ra các tổ chức hiện đại ở Việt Nam”.

The CPTPP is expected to stimulate reforms in areas such as competition, services (including financial services, telecommunications, and temporary entry of service providers), customs, e-commerce, environment, government procurement, intellectual property, investment, labor standards, legal issues, market access for goods, rules of origin, non-tariff measures and trade remedies, the World Bank said.

Ngân hàng Thế giới cho biết rằng CPTPP dự kiến sẽ kích thích cải cách trong các lĩnh vực như cạnh tranh, dịch vụ (bao gồm dịch vụ tài chính, viễn thông, các nhà cung cấp dịch vụ tạm nhập), hải quan, thương mại điện tử, môi trường, mua sắm chính phủ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, tiêu chuẩn lao động, luật pháp, tiếp cận thị trường đối với hàng hoá, quy định về xuất xứ, các biện pháp phi thuế quan và các biện pháp phục hồi thương mại.

According to new data from HSBC, 63 percent of businesses in Vietnam believe the CPTPP will have a positive impact.

Theo số liệu mới từ ngân hàng HSBC, 63% doanh nghiệp tại Việt Nam tin rằng CPTPP sẽ có tác động tích cực.

The 11 CPTPP state members represent a market of 500 million people, greater than that of the European Union’s single market.

11 quốc gia thành viên CPTPP đại diện cho một thị trường 500 triệu người, lớn hơn thị trường đơn lẻ của Liên minh châu Âu.

The pact will come into force 60 days after it is fully ratified by six of the 11 members.

Hiệp định sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ khi được 6 trong số 11 nước thành viên phê chuẩn.

The 11 CPTPP countries are Australia, Brunei, Canada, Chile, Japan, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore and Vietnam.

11 quốc gia CPTPP là Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam.

Source: https://e.vnexpress.net/news/business/companies/vietjet-air-to-borrow-609-mln-from-investec-bank-3723949.html

WORD BANK:

yield [C2] (v): mang lại (tác động tích cực)

robust (adj): mạnh mẽ, to lớn

economic gains (n): lợi ích kinh tế

multilateral (adj): đa phương

boost [B2] (v): thúc đẩy

drive (v): thúc đẩy

amount to (v): lên tới

span (v): mở rộng

assume [B2] (v): cho rằng

modest [B2] (adj): khiêm tốn

productivity [C1] (n): năng suất

signatory countries (n): quốc gia ký kết (hiệp định)

strike back [B2] (v): đấu tranh

file a case against (phrase): đệ đơn kiện ai

punitive (adj): có tính trừng phạt

reputation [B2] (n): danh tiếng

make (little) sense (phrase): có (ít) ý nghĩa

incentive [C2] (n): động lực, sự khuyến khích

domestic private firms (n): các doanh nghiệp tư nhân trong nước

integrate into (v): hội nhập vào

trade liberalization (n): tự do hóa thương mại

market access (n): khả năng tiếp cận thị trường

stimulate [B2] (v): thúc đẩy

accelerate [C2] (v): thúc đẩy (làm cái gì tăng nhanh chóng)

(release) commitment (phrase): đưa ra cam kết

temporary [B1] (adj): tạm thời

entry (n): sự tiếp nhận, đầu vào

government procurement (n): mua sắm của chính phủ

intellectual property (n): sở hữu trí tuệ

non-tariff (adj): phi thuế quan

ratify (v): phê chuẩn