Revealed: the more time that children chat on social media, the less happy they feel

0
2378

Study shows using Instagram, Facebook and WhatsApp can have an adverse effect on self-esteem.

Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng Instagram, Facebook và WhatsApp có thể có ảnh hưởng xấu đến lòng tự trọng.

Perhaps Facebook should carry a health warning. A study has revealed that the children who spend more time on online social networks feel less happy in almost all aspects of their lives.

Có lẽ Facebook nên có một cảnh báo về sức khỏe. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng những đứa trẻ dành nhiều thời gian hơn cho các mạng xã hội trực tuyến cảm thấy ít hạnh phúc hơn trên hầu hết các khía cạnh của cuộc sống.

The research by a team of economists at the University of Sheffield, to be presented at this week’s Royal Economic Society annual conference in Bristol, shows that the more time children spend chatting on Facebook, Snapchat, WhatsApp and Instagram, the less happy they feel about their school work, the school they attend, their appearance, their family and their life overall. However, they do feel happier about their friendships.

Nghiên cứu của một nhóm các nhà kinh tế tại Đại học Sheffield, sẽ được trình bày tại hội nghị thường niên của Hiệp hội Kinh tế Hoàng gia ở Bristol tuần này, cho thấy rằng trẻ em càng dành nhiều thời gian trò chuyện trên Facebook, Snapchat, WhatsApp và Instagram, thì chúng càng cảm thấy ít hạnh phúc hơn việc học, trường học, ngoại hình, gia đình và cuộc sống của chúng nói chung. Tuy nhiên, chúng cảm thấy hạnh phúc hơn về tình bạn.

Economists found that spending just one hour a day on social networks reduces the probability of a child being completely happy with his or her life overall by around 14%. They found that this was three times as high as the estimated adverse effect on well-being of being in a single-parent household – and larger than the effect of playing truant.

Các nhà kinh tế nhận thấy rằng chỉ dành một giờ mỗi ngày cho các mạng xã hội làm giảm khoảng 14% khả năng rằng đứa trẻ cảm thấy hoàn toàn hài lòng với cuộc sống của mình. Họ phát hiện ra rằng con số này cao gấp ba lần so với tác động bất lợi được ước tính do việc phải làm một ông bố / bà mẹ đơn thân – và lớn hơn tác động của việc trốn học.

The findings are likely to stoke the debate about the upsides and downsides of social media.

Những phát hiện có khả năng đổ thêm dầu vào cuộc tranh luận về những mặt tốt và mặt trái của phương tiện truyền thông xã hội.

More than 90% of 16- to 24-year-olds use online social networks and while most sites stipulate a minimum user age of 13, few apply any checks. A BBC survey found that more than three-quarters of 10- to 12-year-olds have social media accounts. A report by the media watchdog Ofcom found that more than half of children aged as young as three and four use a tablet while one in seven has their own device.

Hơn 90% những người trong độ tuổi 16 đến 24 sử dụng mạng xã hội trực tuyến và trong khi hầu hết các trang web quy định độ tuổi người dùng tối thiểu là 13, rất ít trang áp dụng các biện pháp kiểm tra. Một cuộc khảo sát của BBC cho thấy hơn ba phần tư trẻ em từ 10 đến 12 tuổi có tài khoản truyền thông xã hội. Một báo cáo của cơ quan giám sát truyền thông Ofcom cho thấy hơn một nửa số trẻ em ở độ tuổi 3 và 4 sử dụng máy tính bảng trong khi một phần bảy trong số chúng có thiết bị riêng.

The amount of time that children between 8 and 11 and those aged 12-15 spend online has more than doubled in a decade, the Ofcom report found. Teenagers now spend nearly three and a half more hours a week online than they do watching television.

Báo cáo của Ofcom cho biết lượng thời gian mà trẻ em từ 8 đến 11 tuổi và trẻ em ở độ tuổi 12-15 dành cho mạng trực tuyến đã tăng hơn gấp đôi trong một thập kỷ. Thanh thiếu niên bây giờ dành nhiều hơn gần ba giờ rưỡi mỗi tuần trên mạng so với thời lượng mà chúng xem tivi.

Social networking has altered childhood dramatically in the past decade and is becoming a concern for politicians and organisations responsible for safeguarding children. The National Society for the Prevention of Cruelty to Children (NSPCC) cited social media as a major cause of the dramatic increase in the numbers of children admitted to hospital after self-harming. The new research, which asked 4,000 10- to 15-year-olds to rate from one to seven how happy they were with different aspects of their lives, reveals that girls are more adversely affected than boys, as online social networking makes them feel less happy about specific areas of their life, in particular about their appearance and the school they attend. Boys were less happy with their friendships.

Mạng xã hội đã thay đổi tuổi thơ một cách đáng kể trong thập kỷ qua và đang trở thành mối lo ngại cho các chính trị gia và tổ chức chịu trách nhiệm với việc bảo vệ trẻ em. Hiệp hội Quốc gia Phòng chống Tội ác đối với Trẻ em (NSPCC) trích dẫn phương tiện truyền thông xã hội là một nguyên nhân chính cho sự gia tăng đáng kể số lượng trẻ em phải nhập viện sau khi tự làm hại mình. Nghiên cứu mới, yêu cầu 4.000 trẻ em từ 10 đến 15 tuổi đánh giá mức độ hạnh phúc của chúng với các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống [theo thang điểm] từ 1 đến 7, cho thấy các bé gái bị ảnh hưởng xấu hơn so với các bé trai, vì mạng xã hội trực tuyến khiến chúng cảm thấy ít hạnh phúc hơn về các khía cạnh cụ thể trong cuộc sống, đặc biệt là về ngoại hình và trường học. Các bé trai ít hạnh phúc với tình bạn.

The research suggests that going online makes children more likely to make negative social comparisons with others.

Nghiên cứu cho thấy rằng việc lên mạng có khả năng khiến cho trẻ em có những so sánh xã hội tiêu cực với người khác.

“The problem with making comparisons in online media is that people tend to portray themselves in an idealised state,” said Philip Powell, one of the economists who conducted the research. “There is evidence that people think other people are happier than them after interacting with them online because we tend to post videos and chat that presents this positive image.”

Philip Powell, một trong những nhà kinh tế đã thực hiện nghiên cứu cho biết, vấn đề với việc so sánh trên các phương tiện truyền thông trực tuyến nằm ở chỗ mọi người có xu hướng phác họa chính họ trong một trạng thái lý tưởng hóa. Có bằng chứng cho thấy mọi người nghĩ rằng những người khác hạnh phúc hơn họ sau khi tương tác với họ trực tuyến vì chúng ta có xu hướng đăng video và các đoạn trò chuyện thể hiện hình ảnh tích cực này.

Powell and his team split the data so that they could compare the effects of going online on children with low and high self-esteem. Unsurprisingly, perhaps, they found the effects were worse for those who lacked confidence.

Powell và nhóm của ông đã phân chia dữ liệu để họ có thể so sánh tác động của việc lên mạng đối với những trẻ em có lòng tự trọng thấp và [những trẻ em có lòng tự trọng] cao. Không có gì đáng ngạc nhiên, có lẽ, họ đã tìm thấy những ảnh hưởng tồi tệ hơn đối với những trẻ em thiếu tự tin.

Powell said cyberbullying could be another explanation for links between unhappiness and children’s use of social media. “There’s evidence the longer young people spend online the more likely they are to be victims of bullying,” he said.

Powell cho biết cyberbullying (tạm dịch: bắt nạt ảo) có thể là một lời giải thích khác cho mối liên hệ giữa sự không hạnh phúc với việc trẻ em sử dụng phương tiện truyền thông xã hội. “Có một số bằng chứng cho thấy những người trẻ tuổi càng sử dụng mạng trực tuyến nhiều thì họ càng có nhiều nguy cơ trở thành nạn nhân của sự bắt nạt,” ông nói.

However, the economists were surprised to find nothing to support the popular theory that time spent on social networks had an adverse effect on children because it left them less time to do other, potentially more rewarding, activities.

Tuy nhiên, các nhà kinh tế đã ngạc nhiên khi không tìm thấy gì để hỗ trợ cho lý thuyết phổ biến rằng thời gian dành cho mạng xã hội có ảnh hưởng xấu đến trẻ em vì nó khiến chúng có ít thời gian hơn để tham gia các hoạt động khác, có thể bổ ích hơn.

“Our findings show that social media use can be detrimental on average to young people and this is consistent with a number of findings in previous studies,” Powell said. “We can’t say any social media is bad but we can say that the more social media children use, the higher the likelihood that they will be dissatisfied with different domains of their life and their life overall.”

Phát hiện của chúng tôi cho thấy rằng việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội có thể có hại cho những người trẻ tuổi và điều này đồng nhất với một số phát hiện trong các nghiên cứu trước đây, ông Pow Powell nói. Chúng tôi không thể nói tất cả phương tiện truyền thông xã hội đều là xấu nhưng chúng tôi có thể nói rằng trẻ em càng sử dụng phương tiện xã hội nhiều thì càng có khả năng rằng chúng sẽ không hài lòng với các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống và cuộc sống của chúng nói chung.

Source: https://www.theguardian.com/society/2017/apr/09/social-networks–children-chat-feel-less-happy-facebook-instagram-whatsapp

WORD BANK:

adverse /ˈæd.vɜːs/ [C2] (adj): xấu, tiêu cực

self-esteem /ˌself.ɪˈstiːm/ [C1] (n): lòng tự trọng

reveal /rɪˈviːl/ [B2] (v): chỉ ra, tiết lộ, cho thấy

aspect /ˈæs.pekt/ [B2] (n): khía cạnh

well-being /ˌwelˈbiː.ɪŋ/ [C1] (n): hạnh phúc

play truant /pleɪ ˈtruː.ənt/ (v – informal): trốn học

stoke /stəʊk/ (v): làm tăng thêm cảm xúc tiêu cực, thêm dầu vào lửa

stipulate /ˈstɪp.jə.leɪt/ (v): quy định

watchdog /ˈwɒtʃ.dɒɡ/ (n): cơ quan giám sát

alter /ˈɒl.tər/ [B2] (v): làm thay đổi

portray /pɔːˈtreɪ/ [C2] (v): phác họa

idealise /aɪˈdɪə.laɪz/ (v): lý tưởng hóa

cyberbullying /ˈsaɪ.bəˌbʊl.i.ɪŋ/ (n): (tạm dịch) bắt nạt ảo – hành vi đe dọa người khác trên mạng

rewarding /rɪˈwɔː.dɪŋ/ (adj): bổ ích

detrimental /ˌdet.rɪˈmen.təl/ [C2] (adj): có hại

consistent /kənˈsɪs.tənt/ [C2] (adj): đồng nhất

domain /dəˈmeɪn/ [C1] (n): khía cạnh, lĩnh vực

TẢI FILE PDF CỦA BÀI ĐỌC TẠI: http://short2win.biz/nE2TV


ỦNG HỘ TÀI CHÍNH READ TO LEAD!

Chào bạn! Có thể bạn chưa biết, Read to Lead là một trang giáo dục phi lợi nhuận với mục đích góp phần phát triển cộng đồng người học tiếng Anh tại Việt Nam. Chúng tôi không yêu cầu người đọc phải trả bất kỳ chi phí nào để sử dụng các sản phẩm chất lượng của mình để mọi người đều có cơ hội học tập tốt hơn. Tuy nhiên, nếu bạn có thể, chúng tôi mong nhận được sự hỗ trợ tài chính từ bạn để duy trì hoạt động của trang và phát triển các sản phẩm mới.

Bạn có thể ủng hộ chúng tôi qua 1 trong 2 cách dưới đây.
– Cách 1: Chuyển tiền qua tài khoản Momo.
Số điện thoại 0886.630.599 (Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương Thảo)
Nội dung chuyển tiền: Ủng hộ Read to Lead
hoặc
– Cách 2: Chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng.
Ngân hàng VIB chi nhánh Hải Phòng
Số tài khoản: 071704060005623 (Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương Thảo)
Nội dung chuyển tiền: Ủng hộ Read to Lead