The era of human gene-editing may have begun. Why that is worrying?

0
1208

A Chinese scientist claims to have edited the genomes of twin baby girls

Một nhà khoa học Trung Quốc tuyên bố đã chỉnh sửa bộ gen của hai bé gái sinh đôi

Humanity’s power to control the four-letter code of life has advanced by leaps and bounds. A new gene-editing technology called CRISPR-CAS9, which was not discovered until 2012, has been the subject of particular excitement. It allows DNA to be edited easily, raising hopes that it could eventually be used to relieve human suffering. Recently, however, CRISPR has caused more unease than optimism, because of claims by a Chinese scientist that he edited the genomes of twin girls when they were embryos, as part of IVF treatment.

Sức mạnh của loài người trong việc kiểm soát mật mã bốn chữ cái của cuộc sống đã phát triển một cách nhanh chóng. Một công nghệ chỉnh sửa gen mới có tên CRISPR-CAS9, chỉ mới được phát hiện vào năm 2012, đã trở thành chủ đề được đặc biệt chú ý. Nó cho phép DNA được chỉnh sửa dễ dàng, nuôi hy vọng rằng nó có thể sẽ được sử dụng để giảm bớt những nỗi đau khổ của con người. Tuy nhiên, gần đây, CRISPR đã gây ra nhiều sự bất mãn hơn là sự lạc quan, bởi vì một nhà khoa học Trung Quốc tuyên bố rằng ông đã chỉnh sửa bộ gen của hai bé gái sinh đôi khi các em còn là phôi thai, như là một phần của việc điều trị IVF.

He Jiankui, of the Southern University of Science and Technology, in Shenzhen – which was not involved in the work – says he edited a gene, CCR5, that allows HIV to infect human cells. Mr He claims to have created one baby resistant to HIV infection, and a twin who is not. (Another woman is apparently carrying an edited embryo.) If reproductive cells were affected, any such modifications will be passed on to subsequent generations. There is still uncertainty over what Mr He has done. But it is just a matter of time before someone, somewhere, edits human embryos that are grown into babies. Governments and regulators need to pay heed.

He Jiankui, thuộc Đại học Khoa học và Công nghệ miền Nam, ở Thâm Quyến – bản thân trường này không liên quan đến công việc của ông He – cho biết ông đã chỉnh sửa một gen, CCR5, cho phép HIV lây nhiễm vào tế bào người. Ông He tuyên bố đã tạo ra một em bé kháng HIV, và một bé sinh đôi thì không. (Một người phụ nữ khác dường như đang mang phôi đã được chỉnh sửa.) Nếu các tế bào sinh sản bị ảnh hưởng, mọi sửa đổi như vậy sẽ được truyền lại cho các thế hệ tiếp theo. Người ta còn chưa chắc chắn về những gì ông He đã làm. Nhưng đó chỉ là vấn đề thời gian trước khi ai đó, ở đâu đó, chỉnh sửa phôi người được nuôi dưỡng thành em bé. Chính phủ và các cơ quan quản lý cần phải chú ý đến vấn đề này.

Presume that Mr He’s assertions are truthful, one day it may make sense to edit an embryo – to cure genetic diseases, say. That day has not arrived. The technology is so new that the risks to human subjects cannot possibly justify the benefits. Scientists do not fully understand the scope of the unintended damage CRISPR does to DNA elsewhere in the genome or how deactivating CCR5 might leave you vulnerable to other diseases (it may, for instance, make death from flu more likely).

Giả sử rằng những khẳng định của ông He là đúng sự thật, có thể nói một ngày nào đó chúng ta có thể chỉnh sửa phôi thai – để chữa các bệnh di truyền. Ngày đó vẫn chưa đến. Công nghệ này quá mới đến nỗi những rủi ro đối với con người có thể chưa thể biện minh cho những lợi ích. Các nhà khoa học không hiểu đầy đủ phạm vi của thiệt hại ngoài ý muốn mà CRISPR gây ra cho DNA ở vị trí khác trong bộ gen hoặc liệu việc vô hiệu hóa CCR5 có thể khiến bạn dễ bị mắc các bệnh khác (ví dụ, bạn có thể dễ bị tử vong do cảm cúm hơn).

Mr He’s work appears to have had the scantiest oversight and a vice-minister says it violates regulations. It seems likely that Mr He himself was largely responsible for deciding whether his human experiment was worth the risks. It is not clear that the babies’ parents gave their informed consent.

Công việc của ông He dường như ít bị giám sát và một thứ trưởng nói rằng nó vi phạm các quy định. Có vẻ như ông He [tự] chịu phần lớn trách nhiệm trong việc quyết định liệu thí nghiệm trên người của ông có đáng để mạo hiểm hay không. Chúng ta vẫn không rõ là bố mẹ của những đứa trẻ sơ sinh có gửi bản cam kết đồng thuận hay không. (Khi một nhà khoa học tiến hành thí nghiệm trên người, ông/bà ấy phải nhận được bản cam kết đồng thuận tham gia có chữ ký của người tham gia thí nghiệm.)

Nor did the procedure fulfill any unmet medical need. For the child whose genome was edited to confer resistance, the claimed benefit is protection from a virus that she may never encounter (although her father is HIV-positive, his sperm were washed to prevent infection during fertilization). If the reports are correct, the second child has been exposed to the potential risks of an edited genome but can still be infected by HIV.

Thí nghiệm của ông He cũng không đáp ứng bất kỳ nhu cầu y tế nào chưa được đáp ứng. Đối với đứa trẻ có bộ gen được chỉnh sửa để mang lại khả năng đề kháng, lợi ích mà nhà khoa học tuyên bố là bảo vệ đứa bé khỏi virus mà cô bé có thể sẽ không bao giờ mắc phải (mặc dù cha của cô bé bị nhiễm HIV, tinh trùng của ông đã được rửa sạch để tránh nhiễm trùng trong quá trình thụ tinh). Nếu các báo cáo là chính xác, đứa trẻ thứ hai đã phải đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn của bộ gen được chỉnh sửa trong khi vẫn có thể bị nhiễm HIV.

The idea that one scientist could make the leap towards editing reproductive cells has been condemned, but it has not been ruled out. Even if Mr He turns out to be a fraud, others have the means, the motive and the opportunity to do similar work. CRISPR is not a complex technology. That leads to two responses.

Ý tưởng rằng một nhà khoa học có thể tạo ra bước nhảy vọt trong việc chỉnh sửa các tế bào sinh sản đã bị lên án, nhưng nó không bị loại trừ. Ngay cả khi ông He là một kẻ lừa đảo đi chăng nữa, những người khác có phương tiện, động cơ và cơ hội để tiến hành công việc tương tự. CRISPR không phải là một công nghệ phức tạp. Điều đó dẫn đến hai phản ứng.

The first is practical: better oversight of places such as fertility clinics, where back-room genome-tinkerers may lurk. That applies not just in China, where Mr He has attracted vocal condemnation, but also in America, where IVF clinics could use greater regulatory scrutiny.

Phản ứng đầu tiên là rất thực tế: sự giám sát tốt hơn đối với những nơi như phòng khám phụ sản, nơi những người mày mò bộ gen hậu phòng có thể ẩn nấp. Điều đó không chỉ áp dụng ở Trung Quốc, nơi ông He đã thu hút những tiếng nói lên án, mà còn ở Mỹ, nơi các phòng khám IVF có thể cân nhắc kỹ lưỡng hơn.

The second is proper debate about when gene-editing is warranted. Editing the unhealthy cells of those suffering from genetic diseases such as Duchenne’s muscular dystrophy and cystic fibrosis will alleviate their suffering. It is less clear when it is necessary to edit embryos, but Mr He’s experiment obviously fails the test. Fertility treatments already screen embryos for unwanted genes.

Phản ứng thứ hai là tranh luận đúng đắn về thời điểm chỉnh sửa gen. Việc chỉnh sửa các tế bào không khỏe mạnh của những người mắc các bệnh di truyền như loạn dưỡng cơ Duchenne, và bệnh xơ nang sẽ làm giảm bớt sự đau khổ của họ. Chúng ta vẫn chưa rõ việc chỉnh sửa phôi thai có là điều cần thiết hay không, nhưng rõ ràng thí nghiệm của ông He đã thất bại. [Trên thực tế] Các phương pháp điều trị sinh sản đã sàng lọc phôi để loại bỏ các gen không mong muốn.

It may even be that editing will one day be used on embryos to enhance genomes (to make people cleverer, say), rather than to cure disease. But that requires regulators, policymakers, scientists and civil society to think through deep ethical questions. Work is already under way to develop principles for editing reproductive cells. Earlier this year the Nuffield Council on Bioethics, a think-tank in Britain, outlined two: that the changes brought about by gene-editing should not increase “disadvantage, discrimination or division in society” and that such changes should not harm the welfare of the future person. Such debate was always going to be needed. Now it is urgent.

Thậm chí có thể một ngày nào đó việc chỉnh sửa gen sẽ được sử dụng trên phôi để tăng cường bộ gen (để làm cho mọi người thông minh hơn, có thể chứ), thay vì để chữa bệnh. Nhưng điều đó đòi hỏi các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học và xã hội dân sự phải suy nghĩ kỹ thông qua các câu hỏi đạo đức sâu sắc. Người ta đã tiến hành để đưa ra các nguyên tắc cho việc chỉnh sửa các tế bào sinh sản. Đầu năm nay, Hội đồng Nuffield về đạo đức sinh học, một nhóm chuyên gia tư vấn ở Anh, đã đưa ra hai điều: rằng những thay đổi do việc chỉnh sửa gen mang lại phải không làm tăng “bất lợi, phân biệt đối xử hoặc chia rẽ trong xã hội” và những thay đổi đó không gây hại cho phúc lợi của người trong tương lai. Những tranh luận như vậy luôn là cần thiết. Bây giờ nó trở nên cấp bách.

Source: https://www.economist.com/leaders/2018/12/01/the-era-of-human-gene-editing-may-have-begun-why-that-is-worrying

WORD BANK:

by leaps and bounds (idiom): một cách nhanh chóng

relieve /rɪˈliːv/ [C2] (v): giảm bớt

unease /ʌnˈiːz/ (n): sự bất mãn, sự không hài lòng, sự lo lắng

embryo /ˈem.bri.əʊ/ (n): phôi thai

resistant to sth /rɪˈzɪs.tənt/ (adj): khả năng kháng cái gì

apparently /əˈpær.ənt.li/ [B2] (adv): rõ ràng

reproductive cell (n): tế bào sinh sản

pay heed /hiːd/ (v): chú ý

presume /prɪˈzjuːm/ [C1] (v): giả sử

assertion /əˈsɜː.ʃən/ (n): khẳng định

deactivate /ˌdiˈæk.tɪ.veɪt/ (v): vô hiệu hóa

vulnerable to sth /ˈvʌn.rə.bəl/ [C2] (adj): dễ bị

scant /skænt/ (adj): ít ỏi

oversight /ˈəʊ.və.saɪt/ (n): giám sát

consent /kənˈsent/ [C1] (n): sự đồng thuận

confer /kənˈfɜːr/ (v): mang lại, trao

sperm /spɜːm/ (n): tinh trùng

fertilization /ˌfɜː.tɪ.laɪˈzeɪ.ʃən/ (n): thụ tinh

be exposed to sth /ɪkˈspəʊzd/ (v): bị đối mặt với cái gì

make a leap (v): tạo ra bước nhảy vọt

condemn /kənˈdem/ [C2] (v): lên án

rule out (v): loại trừ, ngăn chặn

fraud /frɔːd/ [C2] (n): kẻ lừa đảo

motive /ˈməʊ.tɪv/ [B2] (n): động cơ

tinker /ˈtɪŋ.kər/ (v): mày mò

lurk /lɜːk/ (v): ẩn nấp

scrutiny /ˈskruː.tɪ.ni/ [C2] (n): cân nhắc kỹ lưỡng

alleviate /əˈliː.vi.eɪt/ (v): làm giảm bớt

screen /skriːn/ (v): sàng lọc

urgent /ˈɜː.dʒənt/ [B1] (adj): khẩn cấp, cấp bách


ỦNG HỘ READ TO LEAD!

Chào bạn! Có thể bạn chưa biết, Read to Lead là một trang giáo dục phi lợi nhuận với mục đích góp phần phát triển cộng đồng người học tiếng Anh tại Việt Nam. Chúng tôi không yêu cầu người đọc phải trả bất kỳ chi phí nào để sử dụng các sản phẩm chất lượng của mình để mọi người đều có cơ hội học tập tốt hơn. Tuy nhiên, nếu bạn có thể, chúng tôi mong nhận được sự hỗ trợ tài chính từ bạn để duy trì hoạt động của trang và phát triển các sản phẩm mới.

Bạn có thể ủng hộ chúng tôi qua 1 trong 2 cách dưới đây.
– Cách 1: Chuyển tiền qua tài khoản Momo.
Số điện thoại 0886.630.599 (Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương Thảo)
Nội dung chuyển tiền: Ủng hộ Read to Lead
hoặc
– Cách 2: Chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng.
Ngân hàng VIB chi nhánh Hải Phòng
Số tài khoản: 071704060005623 (Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương Thảo)
Nội dung chuyển tiền: Ủng hộ Read to Lead