Venice – Not drowning but suffocating (Part II)

0
711

Venice – Not drowning but suffocating (Part I)

Venice – Not drowning but suffocating (Part III)

St Mark’s Square is the “drawing room” of Venice, says Antonello de’ Medici, manager of the Danieli hotel. A well-heeled tourist can have a coffee at Florian’s – €10 ($11) for a cappuccino – sitting at tables once patronized by Casanova, Wagner and Hemingway. It is worth it just for the choreography: drinks and food are served on silver trays, carried above the waiter’s shoulder to make the most of the crowded space. The rectangular tables in the ladies’ lounge rotate in order to make it easier for customers wearing crinolines to ease their way onto the banquettes. But Florian’s is too pricey for most visitors. Why spend money in an expensive café when you can buy a snack in a supermarket on the mainland?

Quảng trường St Mark là “phòng tranh” của Venice, Antonello de’ Medici, người quản lý khách sạn Daniel cho biết. Một khách du lịch giàu có có thể uống cà phê tại [quán] Florian – [với giá] 10 euro (11 đô la Mỹ) cho một ly cappuccino – ngồi tại những bàn nơi mà Casanova, Wagner và Hemingway từng đặt. Cái giá đó rất đáng cho sự bày biện: đồ uống và thức ăn được phục vụ trên các khay bạc, được đặt trên vai người phục vụ để tận dụng tối đa không gian trật hẹp. Những chiếc bàn hình chữ nhật trong phòng chờ của nữ giới có thể xoay được để giúp khách hàng mặc váy rộng vành để dễ dàng di chuyển vào bàn tiệc. Nhưng hầu hết các món ở Florian đều có giá quá cao đối với hầu hết các du khách. Tại sao phải trả thêm tiền trong một quán cà phê đắt đỏ khi mà bạn có thể mua một bữa ăn nhẹ trong một siêu thị trong đất liền?

Venice’s concentrated beauty is its undoing. Many tourists come just to glimpse its remarkable cityscape. They do not ask for entertainment or comfort: since the best things in Venice are free, there is no need to spend money on anything else. They do not linger: many want only to visit St Mark’s Square and be photographed in front of the Basilica. Of the 25m visitors every year, 12m are day-trippers.

Vẻ đẹp tập trung của Venice chính là nguyên nhân thất bại của thành phố này. Nhiều khách du lịch đến chỉ để liếc nhìn cảnh quan đáng chú ý của thành phố này. Họ không cần giải trí hay sự thoải mái: vì những điều tốt nhất ở Venice đều là miễn phí, chẳng cần phải chi tiền cho bất cứ điều gì khác. Họ không nán lại: nhiều người chỉ muốn đến Quảng trường St Mark và được chụp ảnh trước Nhà thờ lớn. Trong số 25 triệu du khách mỗi năm, 12 triệu người là khách đến trong ngày.

For tourists on tight budgets, this is an entirely sensible approach. For the city, it is disastrous. It means more people for less revenue, and drags Venice into a down-market spiral. So St Mark’s Square is jammed with day-trippers and dotted with bancarelle – souvenir stands – and unlicensed hawkers of flowers, toys and even pigeon seed (a menace, given how avian excrement damages the old buildings). A scruffy noticeboard, barely visible under stickers, chewing gum and grime, asks tourists to behave respectfully and not to picnic on the steps. Nobody pays much notice.

Đối với khách du lịch với ngân sách eo hẹp, đây là một cách tiếp cận hoàn toàn hợp lý. Đối với thành phố Venice thì đó là thảm họa. Điều đó có nghĩa là nhiều người hơn nhưng mại lại doanh thu ít hơn và kéo Venice vào vòng xoáy thị trường bình dân. Vì vậy, Quảng trường St Mark, bị kẹt cứng với khách du lịch trong ngày và rải rác các bancarelle – các quầy lưu niệm – và những người bán hàng rong không có giấy phép bán hoa, đồ chơi và thậm chí cả hạt cho chim bồ câu (đây là một mối đe dọa, bởi phân chim làm hỏng các tòa nhà cũ). Một bảng thông báo sần sùi, hầu như chẳng thể nhìn thấy [vì đã bị che khuất bởi] các sticker, kẹo cao su và bụi bẩn, yêu cầu khách du lịch cư xử lịch sự và không cắm trại trên các bậc thềm. Chẳng mấy ai để ý.

Overcrowding deters the most valuable visitors. The bigger the low-budget crowds, the less attractive the place becomes for the high spenders. Top-end tourists do not want to struggle through the crowds to go to the opera or a gallery.

Việc thành phố quá đông đúc ngăn cản [nó thu hút] những du khách có tiền. Đám đông ngân sách thấp càng lớn thì thành phố càng trở nên kém hấp dẫn đối với những người có khả năng chi tiêu cao. Khách du lịch giàu có không muốn phải vật lộn qua đám đông để đến nhà hát opera hoặc phòng trưng bày.

The crush does not just spoil the visitor experience; it also crowds out the locals. In the fish market beside the Rialto, where seafood is heaped high on piles of crushed ice, empty spaces outnumber the stalls. Nino Zane, the owner of Ittica Zane, says bleakly: “I have no hope – in five years it will be gone – we are trying to enjoy what little we have left.” Six years ago there were ten merchants. Now there are six. Prices are lower on the mainland, he concedes, but the crowds are the main reason locals don’t come to the market. As he speaks, a gaggle of Japanese tourists comes into view, and queues, politely but firmly, in front of the stall in order to take first selfies, and then a series of group photos, against a background of eels, a colossal swordfish, octopus and crates of heaving, twitching squilla mantis – an outsized local shrimp, sold live.

Sự chật chội đông đúc không chỉ làm hỏng trải nghiệm của khách du lịch; nó còn ảnh hưởng đến người địa phương. Trong chợ cá bên cạnh cây cầu Rialto, nơi hải sản được chất thành đống trên các đống đá vụn, không gian trống nhiều hơn là các quầy hàng. Nino Zane, chủ sở hữu của cửa hàng Ittica Zane, nói một cách ảm đạm: Chẳng có hy vọng gì cả – trong 5 năm tới cửa hàng này sẽ biến mất – chúng tôi đang cố gắng tận hưởng những gì chúng tôi còn lại. Sáu năm trước có 10 thương nhân ở đây. Bây giờ chỉ còn có sáu. Giá cả trên đất liền rẻ hơn, ông thừa nhận, nhưng đám đông là lý do chính khiến người dân địa phương không đến ngôi chợ này. Theo ông kể, [thường thì] một nhóm khách du lịch Nhật Bản xuất hiện và xếp hàng, một cách rất lịch sự nhưng chắc chắn, trước quầy hàng để chụp ảnh tự sướng trước, rồi sau đó là một loạt ảnh nhóm, trên nền là những con cá chình, một con cá kiếm khổng lồ, những con bạch tuộc và thùng bề bề đông đúc, ngọ nguậy – một loại tôm ngoại cỡ của địa phương, được bán sống.

Outside the Arsenale, an ancient military base just a few minutes’ walk from San Marco, Paolo Lanapoppi, a retired poetry professor, bemoans the collapse of the neighbourhood. The last bakery is about to go the way of the fish shops; the old retailers are being replaced by souvenir shops selling identical imported masks, glass trinkets and scarves. “It’s a cemetery,” he says.

Bên ngoài Arsenale, một căn cứ quân sự cổ xưa chỉ cách San Marco, Paolo Lanapoppi vài phút đi bộ, một giáo sư về thơ ca đã nghỉ hưu tiếc thương cho sự sụp đổ của khu phố. Tiệm bánh cuối cùng cũng sắp sửa đi theo các cửa hàng cá; các cửa hàng bán lẻ cũ đang được thay thế bởi các cửa hàng lưu niệm bán những chiếc mặt nạ nhập khẩu, đồ trang sức bằng thủy tinh và khăn quàng cổ giống hệt nhau. “Đây là một nghĩa trang”, ông nói.

Traditional restaurants cannot compete with tourist joints. You can give day-trippers frozen food heated up in a microwave: they won’t come back anyway, so there’s little point in taking the trouble to feed them well. Identikit eateries dot the pavements, with tourist menus offering pasta and pizza for €15 a head, wine included (all too often with hefty service, or “extra seafood” charges to trap the unwary).

Nhà hàng truyền thống không thể cạnh tranh với các công ty du lịch liên doanh. Bạn có thể bán cho các du khách trong ngày thực phẩm đông lạnh được hâm nóng trong lò vi sóng: dù sao họ cũng sẽ không quay trở lại, vậy thì cũng chẳng có mấy ý nghĩa khi chấp nhận rủi ro để cho họ ăn ngon. Các quán ăn của Identikit rải rác trên vỉa hè, với các thực đơn du lịch gồm mì ống và pizza với giá 15 earo một suất, bao gồm rượu vang (thường là với suất khổng lồ, hoặc “thêm hải sản” để thu hút những thực khách bất đắc dĩ)

Source: https://www.1843magazine.com/features/not-drowning-but-suffocating

WORD BANK:

well-heeled /ˌwel ˈhiːld/ (adj – informal): giàu có

patronize /ˈpæt.rə.naɪz/ (v): bảo trợ

choreography /ˌkɒr.iˈɒɡ.rə.fi/ (n): vũ đạo

make the most of sth (v): tận dụng tối đa cái gì

rectangular /rekˈtæŋ.ɡjə.lər/ [B2] (adj): hình chữ nhật

rotate /rəʊˈteɪt/ (v): xoay

crinoline /ˈkrɪn.əl.ɪn/ (n): váy rộng vành

ease /iːz/ (v): làm cho cái gì trở nên dễ dàng

pricey /ˈpraɪ.si/ (adj): đắt đỏ

undoing /ʌnˈduː.ɪŋ/ (n – formal): nguyên nhân thất bại

glimpse /ɡlɪmps/ (v): liếc nhìn

linger /ˈlɪŋ.ɡər/ [C2] (v): nán lại

Basilica /bəˈsɪl.ɪ.kə/ (n): Nhà thờ lớn

tight budget /taɪt ˈbʌdʒ.ɪt/ [B2] (n): ngân sách eo hẹp

sensible /ˈsen.sə.bəl/ [B1] (adj): hợp lý

disastrous /dɪˈzɑː.strəs/ [C1] (adj): mang tính thảm họa

revenue /ˈrev.ən.juː/ [C1] (n): doanh thu

drag sb/sth into sth (v): kéo ai/cái gì vào cái gì

down-market (n): thị trường bình dân

spiral /ˈspaɪə.rəl/ (n): vòng xoáy

hawker /ˈhɔː.kər/ (n): người bán hàng rong

menace /ˈmen.ɪs/ (n): mối đe dọa

avian excrement /ˈeɪ.vi.ən ˈek.skrə.mənt/ (n): phân chim, phân gia cầm

scruffy /ˈskrʌf.i/ [C2] (adj): sần sùi

grime /ɡraɪm/ (n): bụi bẩn

deter /dɪˈtɜːr/ (v): ngăn cản

struggle /ˈstrʌɡ.əl/ [B2] (v): vật lộn

heap /hiːp/ [C2] (v): chất đống, đống

bleakly /ˈbliːk.li/ (adv): một cách ảm đạm

concede /kənˈsiːd/ [C2] (v): thừa nhận

a gaggle /ˈɡæɡ.əl/ (n – informal): một nhóm

queue /kjuː/ [B1] (v): xếp hàng

firmly /ˈfɜːm.li/ [B2] (adv): một cách chắc chắn

eel /iːl/ (n): cá chình

colossal /kəˈlɒs.əl/ (adj): khổng lồ

crate /kreɪt/ (n): thùng (gỗ)

heaving /ˈhiː.vɪŋ/ (adj – informal): đông đúc

twitching /twɪtʃɪŋ/ (adj): co giật

squilla mantis /ˈmæn.tɪs/ (n): con bề bề

bemoan /bɪˈməʊn/ (v – formal): tiếc thương

identical /aɪˈden.tɪ.kəl/ [B2] (adj): giống hệt nhau

trinket /ˈtrɪŋ.kɪt/ (n): đồ trang sức

scarf /skɑːf/ (n): khăn quàng cổ

cemetery /ˈsem.ə.tri/ [B2] (n): nghĩa trang

eatery /ˈiː.tər.i/ (n – informal): quán ăn

hefty /ˈhef.ti/ (adj): khổng lồ

unwary /ʌnˈweə.ri/ (adj): bất đắc dĩ

TẢI FILE PDF CỦA BÀI VIẾT TẠI: http://short2win.biz/eS7eu


ỦNG HỘ TÀI CHÍNH READ TO LEAD!

Chào bạn! Có thể bạn chưa biết, Read to Lead là một trang giáo dục phi lợi nhuận với mục đích góp phần phát triển cộng đồng người học tiếng Anh tại Việt Nam. Chúng tôi không yêu cầu người đọc phải trả bất kỳ chi phí nào để sử dụng các sản phẩm chất lượng của mình để mọi người đều có cơ hội học tập tốt hơn. Tuy nhiên, nếu bạn có thể, chúng tôi mong nhận được sự hỗ trợ tài chính từ bạn để duy trì hoạt động của trang và phát triển các sản phẩm mới.

Bạn có thể ủng hộ chúng tôi qua 1 trong 2 cách dưới đây.
– Cách 1: Chuyển tiền qua tài khoản Momo.
Số điện thoại 0886.630.599 (Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương Thảo)
Nội dung chuyển tiền: Ủng hộ Read to Lead
hoặc
– Cách 2: Chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng.
Ngân hàng VIB chi nhánh Hải Phòng
Số tài khoản: 071704060005623 (Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương Thảo)
Nội dung chuyển tiền: Ủng hộ Read to Lead