South Korea’s fertility rate is the lowest in the world

0
807

The population is ageing even faster than in Japan.

Dân số [Hàn Quốc] đang già đi thậm chí còn nhanh hơn ở Nhật Bản.

In the cherry-tree-studded hills a couple of hours south-east of Seoul sits a bungalow-style school building made of dark bricks. Its wooden floors are lovingly polished. The brightly coloured walls are lined with books and toys. The only thing it is missing is children. Forty years ago, in the region’s heyday as a mining area, Bobal primary school had more than 300 pupils. Today it has three: one girl and two boys, looking forlorn among the empty chairs. The school is only being kept open because a handful of villagers mounted a campaign to resist the education ministry’s plan to merge it with the one in the next town, ten kilometres away. “Keeping the school is important for the community,” says Kim Jung-hoon, whose daughter is one of the three pupils left. “How will we ever persuade families to stay if there is nowhere to go for their children?”

Trên những ngọn đồi phủ đầy cây anh đào, cách Seoul một vài giờ [lái xe] về phía đông nam, là một trường học kiểu nhà gỗ làm bằng gạch tối màu. Sàn gỗ được đánh bóng đẹp đẽ. Những bức tường rực rỡ đầy sách và đồ chơi. Điều duy nhất ngôi trường này thiếu là những đứa trẻ. Bốn mươi năm trước, vào thời hoàng kim của vùng mỏ này, trường tiểu học Bobal có hơn 300 học sinh. Ngày nay chỉ có ba: một bé gái và hai bé trai, trông thật lạc lõng giữa những chiếc ghế trống. Ngôi trường vẫn được mở vì một số dân làng đã tăng cường chiến dịch chống lại kế hoạch của Bộ giáo dục có ý định hợp nhất trường học này với một trường ở thị trấn kế bên, cách đó tận 10 km. “Giữ cho ngôi trường mở cửa là điều cần thiết đối với cộng đồng này,” theo ông Kim Jung-hoon, cha của bé gái trong lớp. “Làm sao chúng ta có thể thuyết phục các gia đình ở lại nếu không có chỗ nào để con cái của họ [đi học]?”

But the education ministry’s plan, which Mr Kim and his fellow activists see as an assault on their village, is a symptom of a wider trend. Since the early 1980s more than 3,500 schools have closed; 28 are set to do so this year. The reason is that South Korea is running out of children. The fertility rate, which suggests how many children the average woman will have over her lifetime, stood at just 1.05 last year, the lowest in the world and far below the “replacement rate” of about 2.1 needed to sustain a population. In Seoul, the capital, the rate is just 0.84. Though South Koreans are not as old as their Japanese neighbours, they are ageing faster.

Nhưng kế hoạch của Bộ giáo dục, điều mà ông Kim và các nhà hoạt động xã hội cùng với ông coi là một đòn đánh vào ngôi làng của họ, là một triệu chứng của một xu hướng rộng lớn hơn. Kể từ đầu những năm 1980, hơn 3.500 trường học đã phải đóng cửa; 28 trường có kế hoạch đóng cửa trong năm nay. Lý do là Hàn Quốc đang thiếu trẻ em. Tỷ lệ sinh, tỷ lệ cho thấy một phụ nữ trung bình sẽ có bao nhiêu con trong suốt cuộc đời, chỉ ở mức 1,05 vào năm ngoái, thấp nhất trên thế giới và thấp hơn nhiều so với “tỷ lệ thay thế” cần thiết ở khoảng 2,1 để duy trì dân số. Tại thủ đô Seoul, tỷ lệ sinh chỉ là 0,84. Mặc dù dân số Hàn Quốc không già như dân số của đất nước hàng xóm Nhật Bản, họ lại đang già đi nhanh hơn.

Most demographers blame a growing mismatch between traditional mores and the changing preferences of younger people. Women are now more educated than men and are keen to succeed in the workforce, despite entrenched sexism and a huge gender pay gap (the average South Korean woman makes just 63% of the salary of the average man). The long hours and rigid hierarchies in South Korean businesses mean that family life is not easy to fit in, even for men. But women face more hurdles. “Many companies still see women as temporary workers who will drop out as soon as they have children,” says Lee Do-hoon of Yonsei University. “So women worry that they won’t be able to return to their jobs after starting a family.”

Hầu hết các nhà nhân khẩu học cho rằng đây là hệ quả của sự khác biệt ngày càng gia tăng giữa các tập tục truyền thống và sở của giới trẻ hiện nay. Phụ nữ bây giờ có trình độ học vấn cao hơn nam giới và muốn thành công trong công việc, mặc cho chủ nghĩa phân biệt giới tính cố thủ và khoảng cách thu nhập rất lớn (phụ nữ Hàn Quốc trung bình chỉ được trả 63% tiền lương so với mức trung bình của nam giới). Giờ làm việc dài và hệ thống phân cấp cứng nhắc trong các doanh nghiệp Hàn Quốc có nghĩa là cuộc sống gia đình không dễ dàng, ngay cả đối với nam giới. Nhưng phụ nữ phải đối mặt với nhiều rào cản hơn. “Nhiều công ty vẫn xem phụ nữ là những người lao động tạm thời mà sẽ bỏ việc ngay khi họ có con,” theo ông Lee Do-hoon thuộc Đại học Yonsei. Vì vậy, phụ nữ lo lắng rằng họ sẽ không thể quay lại làm việc khi sau khi lấy chồng.

Affording a family is difficult. Unemployment among young people stands at 10.5%. University graduates, who make up 69% of those between 25 and 34, can no longer expect to walk into a lucrative job and keep it for life. Owning a house in Seoul, where most economic opportunities are, is out of reach for all but the richest.

Kiếm tiền trang trải chi phí sinh hoạt cho một gia đình là một điều khó khăn. Tỷ lệ thất nghiệp ở giới trẻ ở mức 10,5%. Sinh viên tốt nghiệp đại học, chiếm đến 69% tổng số người ở độ tuổi 25 đến 34, chẳng còn có thể mong đợi kiếm được một công việc thu nhập cao và làm ở đó cả đời. Việc sở hữu một ngôi nhà ở Seoul, nơi có hầu hết các cơ hội kinh tế, nằm ngoài tầm với của tất cả mọi người, trừ những người giàu nhất.

For many, marriage is also unappealing. Men worry that they will not be able to support a family. Women complain about the outdated expectations of potential suitors. Matchmaking companies deduct points from female applicants who have serious jobs but insufficient domestic skills. “Getting married just means that the guy expects you to stay at home and cook for him,” says a woman who works for an NGO in Seoul. “Why would I want to do that?” Yet having children outside marriage is seen as shameful.

Đối với nhiều người, hôn nhân cũng chẳng có gì hấp dẫn. Đàn ông lo lắng rằng họ không thể chu cấp cho một gia đình. Phụ nữ phàn nàn về những kỳ vọng lỗi thời của những người cầu hôn tiềm năng. Các công ty mai mối trừ điểm từ các ứng viên nữ có công việc nghiêm túc nhưng không có đủ kỹ năng nội trợ. “Hôn nhân chỉ có nghĩa rằng một anh chàng mong bạn ở nhà và nấu ăn cho anh ta,” theo lời một phụ nữ làm việc cho một tổ chức phi chính phủ ở Seoul. “Tại sao tôi lại phải muốn lấy chồng chứ?” Trong khi đó, có con ngoài giá thú bị coi là một điều đáng xấu hổ.

The lack of babies threatens the strained pension system and future economic growth. It does not help that the attempts of past governments to tackle it have mostly inspired resentment. The administration of Park Geun-hye, the previous president, suffered a backlash in 2016 when it published a “birth map” highlighting the most fertile areas of the country in bright pink in an attempt to spur others along. Unsurprisingly, women took exception to being treated like farm animals.

Tỷ lệ sinh thấp đe dọa hệ thống lương hưu vốn đã phải chịu áp lực và tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Những nỗ lực của các chính phủ tiền nhiệm để giải quyết vấn đề này đã gây ra sự phẫn nộ lớn. Chính quyền của bà Park Geun-hye, tổng thống tiền nhiệm, đã vấp phải phản ứng dữ dội vào năm 2016 khi công bố bản đồ tỷ lệ sinh của đất nước, trong đó làm nổi bật các khu vực có tỷ lệ sinh cao nhất bằng màu hồng rực rỡ như một nỗ lực thúc đẩy những vùng khác đi theo. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên, phụ nữ phản đối việc họ bị đối xử như động vật trong trang trại.

President Moon Jae-in seems set on a different tack. His government has announced measures to improve child care and increase support for single-parent families. That makes sense, since South Korea spends less of its GDP on family benefits than most other rich countries. Mr Moon has also pledged to work towards greater gender equality and less punishing hours in the workplace. The emphasis is on enhancing people’s freedom to choose how to live, rather than just boosting births. This reframing may help, says Mr Lee: “Women don’t want the government to decide whether they have babies or not. They want it to create conditions under which they might want to have them.”

Tổng thống Moon Jae-in dường đang đặt ra một chiến lược khác. Chính phủ của ông đã công bố các biện pháp cải thiện chăm sóc trẻ em và tăng cường hỗ trợ cho các gia đình đơn thân. Điều đó có ý nghĩa, vì Hàn Quốc dành ít GDP để chăm sóc lợi ích của các hộ gia đình hơn hầu hết các nước phát triển khác. Ông Moon cũng đã cam kết giảm sự bất bình đẳng giới và giảm giờ làm. Trọng tâm [của các chiến lược này] là nâng cao quyền tự do của mọi người trong việc lựa chọn lối sống, thay vì chỉ thúc đẩy việc sinh nở. Sự cải tổ này có thể sẽ có ích, theo ông Lee: “Phụ nữ không muốn chính phủ quyết định liệu họ sẽ có con hay không. Họ muốn chính phủ tạo ra những điều kiện khiến đó họ có muốn có con.”

Still, the shift is unlikely to result in a rapid enough change. The government also helps to arrange marriages between rural men and “imported” brides from poorer Asian countries. In theory, it accepts the need for foreigners not just to make babies but to do other jobs as well. But mass immigration remains a touchy subject.

Tuy nhiên, chiến lược mới này không thể mang đến một sự thay đổi đủ nhanh. Chính phủ cũng giúp sắp xếp các cuộc hôn nhân giữa những người đàn ông nông thôn và các cô dâu “nhập khẩu” từ các nước nghèo ở châu Á. Về lý thuyết, họ chấp nhận người nước ngoài không chỉ để sinh em bé mà còn làm các công việc khác nữa. Nhưng nhập cư hàng loạt vẫn là một vấn đề gây tranh cãi.

Source: https://www.economist.com/asia/2018/06/30/south-koreas-fertility-rate-is-the-lowest-in-the-world?fbclid=IwAR2J-zkspywSzkkwoCe3AViF61GMo8_12hRhm-78SMTFTLq-2e-YlG7VuDw

WORD BANK:

bungalow /ˈbʌŋ.ɡəl.əʊ/ (n): nhà gỗ

polish /ˈpɒl.ɪʃ/ (v): đánh bóng

heyday /ˈheɪ.deɪ/ (n): thời hoàng kim

forlorn /fəˈlɔːn/ (adj): lạc lõng

a handful of /ˈhænd.fʊl/ (quant): một số

mount /maʊnt/ [C2] (v): tăng cường

resist /rɪˈzɪst/ [C1] (v): chống lại

merge /mɜːdʒ/ [C2] (v): hợp nhất

fellow /ˈfel.əʊ/ [B2] (adj): chỉ những người cùng quan điểm, cùng chí hướng

fertility rate /fəˈtɪl.ə.ti reɪt/ (n): tỷ lệ sinh

demographer /dɪˈmɒɡ.rə.fər/ (n): nhà nhân khẩu học

mismatch /ˌmɪsˈmætʃ/ (n): sự không phù hợp, sự khác biệt

mores /ˈmɔː.reɪz/ (n): tập tục

entrench /ɪnˈtrentʃ/ (v): cố thủ

rigid /ˈrɪdʒ.ɪd/ [C2] (adj): cứng nhắc

hierarchy /ˈhaɪə.rɑː.ki/ [C2] (n): sự phân cấp

hurdle /ˈhɜː.dəl/ (n): rào cản

temporary /ˈtem.pər.ər.i/ [B1] (adj): tạm thời

afford /əˈfɔːd/ (v): có đủ tiền để làm gì đó

lucrative /ˈluː.krə.tɪv/ [C2] (adj): sinh lời, có lợi

unappealing /ˌʌn.əˈpiː.lɪŋ/ (adj): không hấp dẫn

suitor /ˈsuː.tər/ (n): người cầu hôn

matchmaker /ˈmætʃˌmeɪ·kər/ (n): người mai mối

deduct /dɪˈdʌkt/ (v): trừ điểm

insufficient /ˌɪn.səˈfɪʃ.ənt/ [C1] (adj): không đủ

domestic /dəˈmes.tɪk/ [B2] (adj): thuộc về hộ gia đình

shameful /ˈʃeɪm.fəl/ [C1] (adj): đáng xấu hổ

strained /streɪnd/ (adj): căng thẳng

tackle /ˈtæk.əl/ [B2] (v): giải quyết

resentment /rɪˈzent.mənt/ [C2] (n): sự phẫn nộ

backlash /ˈbæk.læʃ/ (n): phản ứng dữ dội

spur sb/sth /spɜːr/ [C2] (v): thúc đẩy

take exception to sth /ɪkˈsep.ʃən/ [C2] (v): phản đối điều gì

measure /ˈmeʒ.ər/ [B2] (n): biện pháp

pledge to do sth /pledʒ/ (v): cam kết làm gì

boost /buːst/ [B2] (v): thúc đẩy

immigration /ˌɪm.ɪˈɡreɪ.ʃən/ [B2] (n): nhập cư

touchy subject /ˈtʌtʃ.i ˈsʌb.dʒekt/ (n): vấn đề gây tranh cãi


ỦNG HỘ READ TO LEAD!

Chào bạn! Có thể bạn chưa biết, Read to Lead là một trang giáo dục phi lợi nhuận với mục đích góp phần phát triển cộng đồng người học tiếng Anh tại Việt Nam. Chúng tôi không yêu cầu người đọc phải trả bất kỳ chi phí nào để sử dụng các sản phẩm chất lượng của mình để mọi người đều có cơ hội học tập tốt hơn. Tuy nhiên, nếu bạn có thể, chúng tôi mong nhận được sự hỗ trợ tài chính từ bạn để duy trì hoạt động của trang và phát triển các sản phẩm mới.

Bạn có thể ủng hộ chúng tôi qua 1 trong 2 cách dưới đây.
– Cách 1: Chuyển tiền qua tài khoản Momo.
Số điện thoại 0886.630.599 (Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương Thảo)
Nội dung chuyển tiền: Ủng hộ Read to Lead
hoặc
– Cách 2: Chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng.
Ngân hàng VIB chi nhánh Hải Phòng
Số tài khoản: 071704060005623 (Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương Thảo)
Nội dung chuyển tiền: Ủng hộ Read to Lead